CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH SỐ ĐẾN ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH 1. Tổng quan về tài chính số 1. Khái niệm Tài chính số Tài chính số (digital finance) là một phạm trù mới trong lĩnh vực tài chính.
Trong vài năm trở lại đây, đã có một số nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau về tài chính số. Ozili (2018) đưa ra định nghĩa về tài chính số là dịch vụ tài chính được cung cấp thông qua điện thoại di động, máy tính cá nhân, Internet hoặc thẻ được liên kết với một hệ thống thanh toán kỹ thuật số đáng tin cậy. Cùng quan điểm về tài chính số, Manyika và cộng sự (2016) cũng nhận định tài chính số là các dịch vụ tài chính được cung cấp thông qua cơ sở hạ tầng kỹ thuật số như điện thoại di động, mạng internet nhằm khuyến khích người tiêu dùng hạn chế dùng tiền mặt và các dịch vụ ngân hàng truyền thống. Còn theo Gomber và cộng sự (2017) định nghĩa tài chính số bao gồm một lượng lớn các sản phẩm tài chính mới, các doanh nghiệp tài chính, phần mềm liên quan tới tài chính và các hình thức giao tiếp với khách hàng mới được cung ứng bởi các công ty Fintech và các nhà cung cấp dịch vụ đổi mới sáng tạo.
Như vậy có thể hiểu tài chính số là thuật ngữ được sử dụng để mô tả tác động của công nghệ mới đối với ngành dịch vụ tài chính. Nó bao gồm nhiều sản phẩm, ứng dụng, quy trình và mô hình kinh doanh mới làm thay đổi cách cung cấp dịch vụ ngân hàng và tài chính truyền thống. Tài chính số mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế và xã hội bao gồm: khuyến khích tài chính toàn diện (financial inclusion); tăng tính hiệu quả; thúc đẩy sự đổi mới tài chính (financial innovation) (World Bank, 2016). Cụ thể, tài chính số thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua hệ thống thanh toán số, các rào cản tiếp cận dịch vụ tài chính được gỡ bỏ, cơ chế tiền di động cho phép những người sở hữu điện thoại có thể thực hiện các giao dịch mà không cần tài khoản ngân hàng.
Đồng thời các phương thức thanh toán số có thể giảm chi phí giao dịch, tăng tốc độ thanh toán, tăng cường bảo mật cho các khoản tiền lớn. Tài chính số có thể làm tăng động cơ gửi tiết kiệm thông qua những khoản tiền gửi tự động. Bên cạnh đó, các phương thức thanh toán số cải thiện việc quản lý rủi ro cho tài chính của cá nhân thông qua sự hỗ trợ dễ dàng từ các nền tảng số. Thêm vào đó, tài chính số có thể cải thiện tình trạng kinh tế của phụ nữ, khả năng tiếp cận các công cụ tài chính, công cụ tiết kiệm dễ dàng giúp trao quyền cho phụ nữ trong hoạt động tiêu dùng và đầu tư.
Tài chính số tăng tính hiệu quả của các hoạt động tài chính thông qua việc giảm các chi phí hoạt động. Hoạt động thanh toán được thực hiện một cách nhanh chóng, các hoạt thanh toán bù trừ, thanh toán trước và sau giao dịch diễn ra nhanh hơn. Chi phí giao dịch tài chính có thể giảm thông qua các phương thức thanh toán số. Có bốn đổi mới chính trong hoạt động thanh toán số (World Bank, 2016), bao gồm: Wapper tạo ra một giao diện kỹ thuật số với các hệ thống thanh toán truyền thống như thẻ tín dụng hoặc tài khoản ngân hàng; Mobile Money - tiền di động là hệ thống lưu trữ tiền bằng đồng tiền quốc gia dưới dạng tín dụng trên thẻ hoặc sổ sách của nhà cung cấp hệ thống, cho phép người dùng giao dịch trên điện thoại; Credits, local digital 10 currencies – Tín dụng và tiền kỹ thuật số ở quốc gia đó; Digital Currencies – Tiền kỹ thuật số được theo dõi trên các sổ cái phân tán (blockchain) và được giao dịch một cách an toàn cho người sử dụng.
Sự phát triển của tài chính số còn được thể hiện thông qua hai hoạt động quan trọng là thanh toán di động (mobile payment) và cho vay trực tuyến (online lending) (Ren và cộng sự, 2018). Trước tiên, thanh toán di động được xem là cốt lõi của tài chính số (Ren và cộng sự). Nhóm tác giả cho rằng giá trị cốt lõi của tài chính số chính là tính khả dụng cho khách hàng. Cụ thể, các khu vực thu nhập thấp có thể dễ dàng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ tài chính số và nhờ “lợi thế đi sau”, các khu vực này sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn.
Thứ hai, cho vay trực tuyến cũng là một yếu tố thúc đẩy sự phát triển của tài chính số. Jiao và Wang (2015) nghiên cứu tại thị trường Trung Quốc đã khẳng định tài chính số giúp giảm đáng kể sự bất cân xứng thông tin và chi phí giao dịch. Hoạt động tài chính số mang lại nhiều khoản vay và cho vay hơn thông qua các hình thức vay trực tuyến, tập trung ở nhóm người thu nhập thấp (luôn bị dịch vụ tài chính truyền thống từ chối). Cho vay trực tuyến trong giai đoạn tài chính số sẽ cải thiện tỷ lệ bao trùm tài chính tại các quốc gia đang phát triển (Ren và cộng sự, 2018).
Dịch vụ Tài chính số Việc ứng dụng công nghệ trong các dịch vụ tài chính tạo ra các sản phẩm, dịch vụ tài chính số. Nói cách khác, dịch vụ tài chính số là các dịch vụ tài chính dựa trên công nghệ kỹ thuật số để người dùng có thể tiếp cận và sử dụng (World Bank, 2020). Những đổi mới trong công nghệ và mô hình kinh doanh đã thúc đẩy sự ra đời của các dịch vụ tài chính số. Mục đích của các dịch vụ này nhằm giảm chi phí, tăng tốc độ, tính minh bạch và bảo mật cho các dịch vụ tài chính.
Các sản phẩm dịch vụ này có thể phục vụ cho tầng lớp người nghèo trên quy mô lớn (World Bank, 2020). Công nghệ số có thể giảm bớt những rào cản trong vòng đời của mỗi dịch vụ tài chính như mở tài khoản, thẩm định khách hàng, xác thực giao dịch, đánh giá tín nhiệm. DFS có chi phí thấp và mang lại hiệu quả về quy mô. Bên cạnh đó DFS còn giúp nâng cao tính minh bạch trên cơ sở lưu vết dữ liệu.
Dữ liệu này sẽ cải thiện khả năng chấm điểm tín dụng cho khách hàng tham gia thị trường phi chính thức. Về nguồn cung cấp, DFS được cung cấp bởi các công ty mới tham gia trong lĩnh vực tài chính như: Các công ty Fintech, nền tảng cho vay ngang hàng, các công ty cho vay trực tuyến và các nền tảng fintech khác khai thác các mạng lưới khách hàng cụ thể. DFS có thể được cung cấp bởi các ngân hàng, công ty bảo hiểm có ứng dụng kỹ thuật số. Trong khi đó về phía cầu, DFS được sử dụng bởi người tiêu dùng sử dụng các thiết bị thông minh và di động.
Các mô hình dịch vụ tài chính số đã được chứng minh là thúc đẩy tài chính toàn diện và sự ổn định tài chính ở quy mô lớn bao gồm: Tiền di động, hệ sinh thái nền tảng số và giao diện lập trình ứng dụng mở (API) (World Bank, 2020). (1) Tiền di động (Mobile money - MM) 11 Tiền di động được xem là làn sóng DFS đầu tiên trên thị trường tài chính. Tiền di động bắt nguồn từ sự phát triển của các dịch vụ tài chính di động (mobile finance services), đây là một trong những ứng dụng di động có triển vọng nhất hiện nay (Kevin, 2012). Tiền di động có thể trở thành nền tảng chung giúp chuyển đổi toàn bộ nền kinh tế sang trạng thái kinh tế số bởi nó được áp dụng trên mọi lĩnh vực như thương mại, chăm sóc sức khỏe, nông nghiệp và các lĩnh vực khác.
Hiểu một cách đơn giản nhất, tiền di động là việc cung cấp dịch vụ tài chính thông qua thiết bị di động (Kevin, 2012). Các dịch vụ này bao gồm thanh toán (chuyển khoản ngang hàng), tài chính (sản phẩm bảo hiểm) và ngân hàng (như truy vấn số dư tài khoản). Tiền di động giúp giảm đáng kể chi phí giao dịch cũng như tăng sự tiện lợi, giúp bảo mật thông tin khách hàng và rút ngắn thời gian giao dịch. Các đại lý tiền di động có thể dễ dàng tiếp cận khách hàng thông qua các dịch vụ di động mà họ cung cấp.
Sản phẩm tiền di động thành công và được biết tới nhiều nhất hiện nay là M-PESA, được ra mắt tại Kenya vào năm 2007. Các nghiên cứu về M-PESA đã cung cấp bằng chứng cho thấy những gia đình sử dụng dịch vụ này đã giải quyết được các rủi ro phát sinh trong tiêu dùng (Suri, 2017), từ đó cải thiện tình trạng nghèo đói tại Kenya. Tác động này cũng được ghi nhận ở các quốc gia khác như Mozambique, Bangladesh, Tanzania và Uganda. Tiền di động là một sản phẩm dịch vụ riêng biệt, không phải là một ngân hàng di động (mobile banking) và được cung cấp với các công ty viễn thông.
Bởi vậy, hệ thống tiền di động nằm ngoài hệ thống ngân hàng và thường được gọi là hệ thống ngân hàng ngầm (shadow banking system) (Suri, 2017). Từ quan điểm của người dùng, tiền di động là một khoản thanh toán trên điện thoại di động của họ. Nó hoạt động thông qua một danh sách dịch vụ trên điện thoại và cho phép khách hàng tham gia vào nhiều giao dịch tài chính khác nhau. Tiền di động ban đầu được sử dụng chủ yếu cho mục tích thanh toán P2P bằng kỹ thuật số mà không cần tới tài khoản ngân hàng hoặc chuyển khoản qua ngân hàng.
Khi tiền di động phát triển, các dịch vụ khác ra đời như thanh toán hóa đơn, tiết kiệm, thanh toán giữa cá nhân và doanh nghiệp, nhận lương hoặc thanh toán với chính phủ. Người dùng chỉ cần đăng ký một tài khoản với đại lý cung cấp dịch vụ tiền di động, sau đó cung cấp thông tin theo yêu cầu và đăng ký sử dụng dịch vụ. Quy trình này thường chỉ mất vài phút để hoàn tất. Các đặc trưng của dịch vụ tiền di động bao gồm: Nhà điều hành, người điều hành tài khoản ngân hàng, dịch vụ được cung cấp, phương thức cung cấp dịch vụ, mạng lưới dịch vụ, khách hàng, cấu trúc phí.
Các MNO cung cấp dịch vụ và có quyền truy cập vào điện thoại di động của người tiêu dùng nhưng lại không có kinh nghiệp trong việc phát triển và phân phối các dịch vụ tài chính, cũng như không có khả năng quản lý các dịch vụ tài chính này. Với các ngân hàng, họ là người cung cấp dịch vụ tương tự các MNO nhưng ngân hàng cần hợp tác với MNO để tiếp cận điện thoại 12 của người dùng.