Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam. 4 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Khái quát về ngân hàng thƣơng mại 1.Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Có nhiều quan niệm khác nhau về ngân hàng thương mại.
Theo cách tổng quát, Rose (2004) cho rằng: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất định so với bất kỳ một tổ chức kinh tế nào trong nền kinh tế”. Cụ thể hơn, theo Mishkin (2011), “Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian cung cấp các dịch vụ tài chính bao gồm nhận tiền gửi và cho vay tiền, thanh toán và các dịch vụ tài chính khác”.(Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại,NXB Thống kê, Hà Nội) Tại Việt Nam, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 nêu rõ: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này vì mục tiêu lợi nhuận.Đặc điểm của ngân hàng thương mại NHTM là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận, hoạt động tín dụng là đặc trưng chủ yếu được thực hiện bằng cách thu hút vốn trong xã hội để cho vay và đầu tư. Vốn phục vụ hoạt động kinh doanh của NHTM phần lớn là tiền gửi của các cá nhân và tổ chức kinh tế trong nền kinh tế. Đặc điểm nổi bật của NHTM là không sử dụng vốn sở hữu vào các hoạt động như cấp tín dụng, mua bán chứng khoán.
Hơn nữa vốn sở hữu của NHTM chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng vốn của NHTM. Sự khác biệt của NHTM với các định chế tài chính khác là NHTM có quyền huy động tiền gửi trong nền kinh tế mỗi khi cần vốn để tiến hành các hoạt 5 Luan van động kinh doanh của mình. Hoạt động kinh doanh của NHTM được phân vào nhóm hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao, nhất là trong hoạt động tín dụng và luôn chịu sự giám sát chặt chẽ bởi Ngân hàng trung ương và Chính phủ. Các NHTM cũng chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau.
Khi một NHTM nào đó có những động thái tác động đến lãi suất huy động, cho vay hay các sản phẩm dịch vụ của mình thì sẽ kéo theo các NHTM khác cũng có sự thay đổi để đảm bảo tính cạnh tranh. Sự tồn tại của NHTM phụ thuộc nhiều vào sự tin tưởng của khách hàng. Khi khách hàng cảm thấy tin tưởng vào tiềm lực, uy tín của ngân hàng sẽ thực hiện các giao dịch như gửi tiền, ký gửi, ủy thác,… 1. Dịch vụ của ngân hàng thương mại Dịch vụ NHTM khá đa dạng có thể được tổng hợp thành các nhóm dịch vụ chính như: Nhóm dịch vụ tiền gửi: là tất cả các khoản tiền của tổ chức, hoặc cá nhân gửi tại tổ chức nhận tiền gửi (không phân biệt mục đích, kỳ hạn, đối tượng).
Có nhiều tiêu chí để phân loại tiền gửi như: theo mục đích thì có tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi tiết kiệm; theo kỳ hạn thì có tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn; theo đối tượng thì có tiền gửi của tổ chức và tiền gửi của cá nhân; theo loại ngoại tệ thì có tiền VND, ngoại tệ hay vàng. Hiện nay BIDV có các sản phẩm tiền gửi cụ thể: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn online doanh nghiệp, tiền gửi chuyên thu, tiền gửi ký quỹ… Nhóm dịch vụ cho vay: là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả ngốc và lãi Nhóm dịch vụ kinh doanh tiền tệ và các công cụ phái sinh: Nhóm dịch vụ thanh toán và chuyển tiền: ngân hàng thực hiện các lệnh thanh toán và chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng Nhóm dịch vụ bảo lãnh và ủy thác: là việc ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ hưởng của hợp đồng khoản đền bụ trong phạm vi của số tiền được nêu 6 Luan van rõ trong giấy bảo lãnh nếu bên đối tác không thực hiện được trách nhiệm của mình trong hợp đồng.Ngân hàng không bảo lãnh việc bên đối tác có thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình cho bên thụ hưởng hay không mà chỉ đảm bảo sự thanh toán trong phạm vi số tiền trong giấy bảo lãnh. Bảo lãnh ngân hàng là sự đảm bảo cho bên thụ hưởng trong trường hợp nếu những hoạt động được chỉ rõ trong hợp đồng không được thực hiện vì bất kỳ lí do nào thì bên thụ hưởng sẽ được quyền hưởng tiền đền bù. Nhóm dịch vụ tư vấn tài chính và quản lý tài sản Nhóm dịch vụ liên quan tới chứng khoán Danh mục dịch vụ NHTM đang tăng lên nhanh chóng và đa dạng.
Dịch vụ thẻ của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái quát về thẻ ngân hàng 1. Khái niệm thẻ ngân hàng Có rất nhiều quan niệm khác nhau về thẻ ngân hàng tùy theo từng góc độ nghiên cứu của tổ chức phát hành, tổ chức thanh toán hay chủ thẻ. TạiQuy chế Phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc NHNN:“Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận”.
Phân loại thẻ ngân hàng Có nhiều cách phân loại thẻ ngân hàng, trong đó phổ biến nhất là căn cứ vào nguồn tài chính và phạm vi sử dụng. Cụ thể như sau: Phân loại theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ Đây là cách phân loại phổ biến hiện nay, được các ngân hàng sử dụng trong giao dịch với khách hàng. Phân loại theo cách này ta có các loại thẻ sau: - Thẻ tín dụng (Credit Card): Là loại thẻ chủ thẻ thực hiện ký kết hợp đồng hạn mức tín dụng với ngân hàng và thực hiện giao dịch trong số tiền hạn mức tín dụng đó. Hạn mức tín dụng đối với mỗi chủ thẻ sẽ khác nhau dựa trên nguồn đảm 7 Luan van bảo tín dụng thẻ (theo thu nhập hoặc cầm cố sổ tiết kiệm,.) và mức chấm điểm tín dụng của ngân hàng đối với chủ thẻ.
- Thẻ ghi nợ (Debit card): Là loại thẻ chủ thẻ thực hiện ký kết hợp đồng mở tài khoản tiền gửi thanh toán với ngân hàng, và thực hiện giao dịch trong phạm vi số dư khả dụng trong tài khoản thanh toán của chủ thẻ. - Thẻ trả trước (Pre-paid): Là loại thẻ chủ thẻ nộp tiền trước cho tổ chức phát hành, thực hiện giao dịch trong phạm vi số tiền đó. Chủ thẻ không cần phải mở tài khoản thanh toán, trên thẻ có thể in sẵn tên hoặc không in tên của chủ thẻ. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ - Thẻ nội địa( Local card): Loại thẻ giao dịch trong phạm vi quốc gia nhất định của tổ chức phát hành.
- Thẻ quốc tế: Loại thẻ có thể giao dịch được ở nhiều quốc gia khác nhau không giới hạn ở quốc gia của tổ chức phát hành, nhờ liên kết với mạng lưới của các tổ chức phát hành thẻ quốc tế. Dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ thẻ Khái niệm Dịch vụ thẻ của NHTM là việc NHTM cung cấp các sản phẩm thẻ và dịch vụ thanh toán thẻ. Trong quá trình phát hành có sự tham gia của tổ chức phát hành thẻ và chủ thẻ và để thanh toán thẻ có thêm sự tham gia của ngân hàng thanh toán thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ và tổ chức thẻ quốc tế đối với hoạt động thanh toán thẻ quốc tế Đặc điểm dịch vụ thẻ Thứ nhất, dịch vụ thẻ ra đời nhằm hạn chế tiền mặt trong lưu thông: Chủ thẻ không cần dùng tiền mặt mà có thể dùng thẻ để thanh toán hàng hóa.
Thứ hai, dịch vụ thẻ rút ngắn khoảng cách về đồng tiền giữa các nước trên thế giới: Chủ thẻ có thể thanh toán hàng hóa hoặc thực hiện rút tiền mặt của quốc gia phát hành hay bất kỳ quốc gia nào có kết nối thanh toán thẻ quốc tế. 8 Luan van Thứ ba, dịch vụ thẻ là dịch vụ ứng dụng nhiều công nghệ khoa học, kĩ thuật hiện đại đòi hỏi chủ thẻ có trình độ hiểu biết nhất định để sử dụng thẻ, bên cạnh đó các thành phần tham gia cung ứng dịch vụ thẻ cũng đảm bảo điều kiện công nghệ nhất đinh để phát hành và thanh toán thẻ. Thứ tư, đặc tính của dịch vụ thẻ là khá đồng nhất giữa các ngân hàng hay có thể nói dịch vụ thẻ giữa các ngân hàng rất ít sự khác biệt, nên bên cạnh việc cung cấp dịch vụ có nhiều tính năng, tiện dụng đến với khách hàng, tổ chức phát hành thẻ cần phải đặc biệt quan tâm đến các yếu tố trực quan như: Mẫu mã, thương hiệu, sự phù hợp với khách hàng, đặc biệt là chế độ chăm sóc khách hàng để tạo ra sự khác biệt. Quy trình phát hành và thanh toán thẻ Nghiệp vụ phát hành thẻ Nghiệp vụ phát hành thẻ của ngân hàng là việc tổ chức thực hiện và kiểm soát toàn bộ quá trình từ tiếp nhận nhu cầu phát hành thẻ đến khi trả thẻ cho khách hàng.
Quy trình phát hành thẻ cho khách hàng gồm các bước sau: Khách hàng điền đẩy đủ thông tin vào yêu cầu phát hành thẻ Ngân hàng kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ phát hành thẻ. Nếu không hợp lệ, chuyển lại cho khách hàng hoàn thiện. Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ thực hiện thu phí và phát hành thẻ theo yêu cầu. Thực hiện giao thẻ và PIN cho khách hàng.
Nghiệp vụ thanh toán thẻ Nghiệp vụ thanh toán thẻ là sự phối hợp của các thành phần tham gia cung ứng dịch vụ thẻ trong đó đóng vài trò rất quan trọng là đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) để chủ thẻ có thể giao dịch mua bán hàng hóa bằng thẻ.