phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn đƣợc chia thành 4 phần: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận, thực tiễn về phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và khung khổ phân tích. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LỮ HÀNH DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chính sách phát triển dịch vụ, trong đó có du lịch, trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế và của các quốc gia. Nổi bật nhƣ báo cáo hàng năm đánh giá chính sách dịch vụ (SPR) của Hội nghị Thƣơng mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) nhằm hỗ trợ phát triển các lĩnh vực dịch vụ tại các nƣớc đang phát triển [26]. Đây là đánh giá mang tính hệ thống về kinh tế, về khuôn khổ các quy định và pháp lý đối với lĩnh vực dịch vụ, nhằm lựa chọn đƣợc các chính sách tối ƣu để đạt đƣợc các mục tiêu phát triển của quốc gia.
Các nƣớc trên thế giới cũng đều có các báo cáo định kỳ, đánh giá hiện trạng cũng nhƣ đề xuất chính sách phát triển lĩnh vực dịch vụ của đất nƣớc mình.Các nghiên cứu liên quan đến vai trò của du lịch Với vai trò ngày càng tăng của ngành du lịch trong nền kinh tế, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển dịch vụ du lịch, bao gồm cả dịch vụ lữ hành thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều học giả, tổ chức và các cơ quan nghiên cứu quốc gia, quốc tế. Những công trình nghiên cứu nổi bật gần đây nhất về chủ đề này là: Công trình của Salah Wahab và John J.Pigram (1997) Tourism, Development and Growth - The Challenge of Sustainability, thông qua việc xác định các xu hƣớng du lịch mới và các thách thức đối với phát triển bền vững, từ đó đề xuất các chính sách phát triển du lịch bền vững [15]; Công trình của Andrew Lockwood và Slavoj Medlik (2003) với tên gọi st “Tourism and Hospitality in the 21 century”. Trên cơ sở đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của ngành du lịch trong đó có lĩnh vực lữ hành, tác giả đã đƣa ra các dự báo và chỉ ra một số xu hƣớng phát triển của ngành trong tƣơng lai, từ đó cũng đề xuất một số chính sách và giải pháp để phát triển dịch vụ du lịch [8]; Công trình của William F. Theobald với “Global Tourism” (2005) đã giới 6 thiệu các khái niệm cơ bản liên quan đến lĩnh vực lữ hành và du lịch, đồng thời, trên cơ sở phân tích, đánh giá tác động của các yếu tố cấu thành chủ yếu, những trở ngại phát sinh và những cơ hội chính đối với ngành du lịch, tác giảđã chỉ ra một số xu hƣớng phát triển trong tƣơng lai của ngành trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế [19]; Công trình của Charles R.
Brent Ritchie với “Tourism: Principles, Practices, Philosophies” (2006), trên cơ sở khái niệm về lữ hành du lịch và phân tích, đánh giá các yếu tố cấu thành của ngành du lịch, đã đƣa ra các dự báo và viễn cảnh của ngành lữ hành du lịch thế giới trong thiên niên kỷ thứ 3[9]; Công trình của Joachim Willms với “The Future Trends in Tourism – Global Perspectives” (2007), đã giới thiệu những xu hƣớng phát triển mới của ngành du lịch trên phạm vi thế giới và theo các khu vực địa lý khác nhau, đồng thời đƣa ra các con số dự báo về mức độ tăng trƣởng của ngành trong giai đoạn 2005 – 2025, từ đó sẽ giúp cho các quốc gia hoạch định chính sách phát triển dịch vụ du lịch của đất nƣớc phù hợp với các xu hƣớng phát triển trên [24]. Bên cạnh đó, một số tổ chức nghiên cứu và các hiệp hội nghề nghiệp quốc tế đã có những nghiên cứu về vấn đề trên, điển hình nhƣ UNWTO với “Tourism 2020 Vision”, trên cơ sở phân tích đánh giá các số liệu trong giai đoạn 1995-2005 đã đƣa ra dự báo phát triển của ngành du lịch thế giới đến năm 2020; Hội đồng Lữ hành và Du lịch Thế giới (WTTC), trong các báo cáo đánh giá phân tích hàng năm cũng đã đƣa ra các xu hƣớng phát triển ngắn hạn của ngành du lịch thế giới. Trong những năm gần đây, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã có những nghiên cứu và các báo cáo đánh giá hàng năm về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành và du lịch thế giới (The Travel & Tourism Competitiveness - Annual Report), trong đó đã đánh giá các yếu tố tác động đến sự phát triển của ngành lữ hành và du lịch toàn cầu. Tuy nhiên, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất chính sách phát triển đối với hoạt động lữ hành du lịch thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa (viết tắt là TCH) và hội nhập kinh tế quốc tế (viết tắt là HNKTQT) là vấn đề phức tạp, nên vẫn còn có nhiều quan điểm khá khác nhau.Các nghiên cứu liên quan đến thực tiễn, tiềm năng và chính sách phát triển du lịch Cho đến nay, việc nghiên cứu một cách tổng thể về cơ sở lý luận, đánh giá thực tiễn phát triển lĩnh vực dịch vụ nói chung và dịch vụ du lịch nói riêng, trong đó có dịch vụ lữ hành du lịch và các chính sách liên quan, đã đƣợc quan tâm nhất định của giới nghiên cứu và đƣợc thực hiện trên nhiều phƣơng diện khác nhau.
Trong đó, nội dung của Báo cáo “Một số lựa chọn và kiến nghị cho Chiếnlược tổng thể phát triển khu vực dịch vụở Việt Nam đến năm 2020” (2005), đã đƣa ra các đề xuất về chính sách và kiến nghị nhằm phát triển lĩnh vực dịch vụ trong bối cảnh hội nhập của Việt Nam [1]; Nội dung của Báo cáo “Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nướcđối với các ngành dịchvụ” (2006) đã đề cập tới cơ cấu tổ chức hiện nay, cũng nhƣ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nƣớc chịu trách nhiệm về dịch vụ và thƣơng mại dịch vụ của Việt Nam; rà soát kỹ lƣỡng các văn kiện pháp lý, hiện đang đƣợc áp dụng trong công tác quản lý nhà nƣớc đối với khu vực dịch vụ, và các hoạt động phối hợp thực tế trong ngành; đồng thời đƣa ra các phƣơng án và đề xuất nhằm nâng cao công tác điều phối giữa các bộ ngành có liên quan tới việc phát triển và quản lí ngành dịch vụ, cũng nhƣ thƣơng mại dịch vụ của đất nƣớc [2]. Nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam, phải kể đến “Báo cáo khả năng cạnh tranh và tácđộng của tự do hóa ngành du lịch” (2006) do Chƣơng trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (viết tắt là UNDP) tài trợ, Vụ Thƣơng mại và Dịch vụ - Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ chủ trì. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích nhân tố ảnh hƣởng và đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành Du lịch Việt Nam, cũng nhƣ những tác động khác nhau từ quá trình tự do hóa đang diễn ra trong ngành [26]. Sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, với tƣ cách là cơ quan quản lý Nhà nƣớc về lĩnh vực du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành “Chương trình hànhđộng của ngành Du lịch”, kèm theo Quyết định số 564/QĐ-BVHTTDL ngày 21/9/2007, nhằm thực hiện Nghị quyết Hội nghị 8 lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá X về một số chủ trƣơng, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO), và xác định rõ nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nƣớc về du lịch ở Trung ƣơng và địa phƣơng, của các doanh nghiệp du lịch nhằm tận dụng cơ hội, vƣợt qua thách thức, đƣa du lịch nƣớc ta bƣớc vào giai đoạn phát triển mới, nhanh, mạnh và bền vững, phấnđấu đạt và vƣợt các chỉ tiêu đãđề ra trong Chiến lƣợc Phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn 2011-2020 [3].
Ngoài ra còn một số luận án nghiên cứu, phân tích về thúc đẩy phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế nhƣ: luận án tiến sỹ “Nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam” của Nguyễn Anh Tuấn thực hiện năm 2010. luận án tiến sỹ “Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO)” của Nguyễn Quang Vinh thực hiện năm 2011. Các luận án này tập trung vào một lĩnh vực cụ thể của ngành Du lịch Việt Nam, hoặc xem xét vấn đề năng lực cạnh tranh, chƣa hệ thống hoá các bài học kinh nghiệm của nƣớc ngoài, đặc biệt là những nƣớc trong khu vực đã thành công trong việc hoạch định chính sách phát triển dịch vụ lữ hành du lịch, từ đó gợi ý cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 1.Khái niệm chung về du lịch Cho đến nay, rất khó để có thể đƣa ra một định nghĩa chính xác về các thuật ngữ nhƣ du lịch, khách du lịch, bởi lẽ những thuật ngữ này có ý nghĩa khác nhau và cách tiếp cận của mỗi ngƣời cũng khác nhau. Xem xét cụ thể: theo từ điển Webster’s New University, du lịch (tourism) đƣợc định nghĩa “là chuyếnđi chơi; là lĩnh vực kinh doanh các chuyến du lịch và các dịch vụ cho khách du lịch”, và khách du lịch (tourist) là “ngườiđi chơi với mụcđích thưởng ngoạn” [20].
Phần lớn các cuốn từ điển trên thế giới đều thống nhất về khái niệm lữ hành, 9 theo đó lữ hành “travel” đƣợc hiểu một cách đơn giản là “hoạtđộng di chuyển ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của một người nàođó, với mụcđích kinh doanh hoặc tham quan nghỉ dưỡng, nhưng không phải là các hoạt độngđi lại hoặc di chuyển từ nơiởđến nơi làm việc hay học tập và ngược lại” (Gee, Makens, & Choy, 1989) [11, tr.