Chương 1: Lý luận chung về phát triển cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, chi nhánh Quảng Ninh Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại TMCP Sài Gòn- Hà Nội, chi nhánh Quảng Ninh. 6 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAYKHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá.
Quá trình phát triển kinh tế đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng và ngƣợc lại, hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Đầu tiên, những nhà buôn tiền đã dùng vốn tự có để cho vay, nhƣng điều đó không kéo dài. Từ thực tiễn, họ nhận thấy thƣờng xuyên có những ngƣời gửi tiền vào và ngƣời lấy tiền ra nhƣng ngƣời gửi tiền không đồng thời rút tiền cùng một lúc đã tạo ra số dƣ thƣờng xuyên trong két. Do tính chất vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách để cho vay.
Từ đó, hoạt động cho vay ra đời và ngày càng phát triển theo hƣớng đa dạng hoá các sản phẩm, mở rộng tài trợ sang nhiều lĩnh vực. Cho vay là việc ngân hàng đƣa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải sử dụng tiền vay đúng mục đích và hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Việt Nam, điều 4, mục 16 [19] thì khái niệm về hoạt động cho vay đƣợc hiểu là: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” 1. Đặc điểm của hoạt động cho vay - Cho vay là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khoản mục tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Cho vay là hoạt động xuất hiện sớm nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất trong 7 tổng tài sản của ngân hàng thƣơng mại nên có ảnh hƣởng lớn đến chiến lƣợc hoạt động kinh doanh và đầu tƣ của Ngân hàng. Thông thƣờng, ngân hàng nghiêng về nắm giữ các khoản tín dụng ngắn hạn, hoặc các khoản tín dụng có khả năng chuyển đổi nhanh bởi ngân hàng cho vay dựa trên phần lớn tiền gửi của khách hàng. Các khoản cho vay ngắn hạn sẽ nhanh chóng đƣợc thu hồi để đáp ứng nhu cầu chi trả bất cứ lúc nào theo yêu cầu của khách hàng. Trong điều kiện ngân hàng hoán chuyển kỳ hạn của nguồn, thu nợ nhiều lần trong kỳ sẽ góp phần tăng tính thanh khoản cho khoản vay.
- Cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất của NHTM thông qua thu lãi cho vay. Doanh thu từ hoạt động cho vay phụ thuộc vào quy mô, thời gian và lãi suất. Ba yếu tố này có mối liên hệ khăng khít. Khoản vay có quy mô lớn, thời gian dài thƣờng có lãi suất cao hơn những khoản vay nhỏ, thời gian ngắn.
Doanh thu từ lãi chiếm phần lớn trong tổng doanh thu của ngân hàng do đó ngân hàng luôn sử dụng mọi nỗ lực để tăng quy mô cho vay đồng thời đảm bảo chất lƣợng của khoản vay bằng việc mở rộng mạng lƣới, đa dạng hoá các loại hình cho vay, phát triển công nghệ mới… - Rủi ro từ hoạt động cho vay cao bởi tính thanh khoản thấp, phụ thuộc vào kế hoạch hoàn trả nợ vay, khả năng trả nợ của khách hàng và sự phát triển của thị trường mua bán nợ. Cho vay là một món nợ của cá nhân, doanh nghiệp đi vay nhƣng lại là tài sản của ngân hàng. So với những tài sản khác, cho vay có tính lỏng kém hơn vì thông thƣờng chúng không thể chuyển thành tiền mặt trƣớc khi các khoản vay đến hạn thanh toán, trừ một số trƣờng hợp đặc biệt ngân hàng phải thu hồi vốn trƣớc hạn do khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích hay không tuân thủ các điều kiện trong hợp đồng. Tổn thất nếu xảy ra có thể làm giảm thu nhập dự tính và có thể gây thua lỗ hoặc phá sản cho ngân hàng.
Vai trò của hoạt động cho vay Đối với tổng thể sự phát triển kinh tế của đất nƣớc, tín dụng nói chung và tín dụng đối với khách hàng cá nhân ngày càng có vai trò quan trọng, góp phần kích 8 thích, thúc đẩy, chuyển dịch, định hƣớng nền kinh tế. Hiện nay, khi nền kinh tế nƣớc ta đang ngày một phát triển, các cá nhân hộ gia đình cũng phải nâng cao chất lƣợng cuộc sống, ổn định kinh tế. Muốn làm đƣợc điều đó, họ cần đƣợc tiếp xúc với nhiều nguồn vốn hơn nữa. Chính vì thế tín dụng đối với khách hàng cá nhân ngày càng trở nên quan trọng hơn.
Vai trò đối với các khách hàng Tín dụng cấp cho các cá nhân sẽ tạo điều kiện cho các cá nhân có thể trang trải các khoản chi phí sinh hoạt, học tập; giúp họ có vốn sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống. Nền kinh tế nƣớc ta đang ngày một phát triển, các chi phí sinh hoạt, học tập ngày càng tăng cao, đặc biệt là trong giai đoạn gần đây. Chính vì thế nhu cầu của các cán bộ công nhân viên chức đƣợc sử dụng các dịch vụ vay vốn của Ngân hàng ngày càng tăng cao. Chính vì thế, tín dụng cấp cho các cá nhân có vai trò ngày càng quan trọng.
Ở các khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo, cuộc sống của ngƣời dân còn nhiều khó khăn. Họ muốn thay đổi cách làm ăn, vƣơn lên thoát nghèo. Muốn làm đƣợc điều đó, họ cũng cần có một nguồn vốn ổn định, uy tín. Các chƣơng trình hỗ trợ của nhà nƣớc chỉ đáp ứng đƣợc một phần nào đó, nên tín dụng Ngân hàng đóng vai trò then chốt trong vấn đề này.
Vai trò đối Ngân hàng Một Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển tốt phải luôn nỗ lực tìm kiếm và huy động đƣợc những nguồn vốn trong xã hội, rồi từ đó đẩy mạnh cho vay và đầu tƣ kiếm lời. Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không quyết định sự thành bại trong hoạt động của Ngân hàng. Hoạt động cho vay có vai trò chủ chốt trong hoạt động của ngân hàng. Trƣớc hết, cho vay mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, đó là việc thu đƣợc lãi và các khoản phí nhất định.
Thu nhập từ lãi sẽ bù đắp chi phí huy động vốn, quản lý và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Lãi từ hoạt động cho vay chiếm khoảng 60% thu nhập cho ngân hàng hàng năm. Sau đó, hoạt động cho vay cũng phục vụ tốt cho các hoạt động bán chéo các sản phẩm khác của ngân hàng 9 nhƣ: tiền gửi, kinh doanh thẻ, mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế và các dịch vụ ngân hàng (Thanh toán hóa đơn, Dịch vụ ngân hàng điện tử, Dịch vụ quản lý tài chính cá nhân…) cùng phát triển nhanh và bền vững. Hiện nay, điều kiện kinh tế đang ngày càng phát triển, chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân cũng dần đƣợc nâng lên.
Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều cá nhân, hộ gia đình đang gặp khó khăn trong quá trình vƣơn lên làm giàu, những sinh viên cũng không có nhiều cơ hội để có thể tiếp cận với những nguồn vốn để có thể kinh doanh hoặc trang trải các khoản chi phí học tập… Nếu biết khai thác thị trƣờng tín dụng đối với khách hàng cá nhân, thì các Ngân hàng có thể thu đƣợc một nguồn lợi không nhỏ. Vai trò đối với nền kinh tế Có thể nói rằng trong tình hình nền kinh tế nƣớc ta hiện nay thì tín dụng Ngân hàng là một nguồn vốn vô cùng quan trọng giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Các cá nhân có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn lớn nhƣ tín dụng Ngân hàng có nhiều điều kiện hơn để sản xuất kinh doanh, trang trải các khoản chi phí, nâng cao mức sống, góp phần thúc đẩy tiêu dùng, từ đó cũng góp phần phát triển kinh tế. Ngày nay, nền kinh tế nƣớc ta đang phát triển tuy nhiên tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn hay ở nội thành, còn ở những nơi nhƣ miền núi hay hải đảo xa xôi thì cuộc sống của ngƣời dân vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.
Các dự án của Chính phủ để phát triển kinh tế ở các khu vực này đang đóng góp một phần không nhỏ vào việc cải thiện chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân nơi đây. Tuy nhiên, vì nguồn vốn của Nhà nƣớc cũng hạn hẹp mà các khu vực trọng điểm lại nhiều, chính vì thế, các dự án này cũng chỉ đáp ứng đƣợc phần nào nhu cầu của ngƣời dân. Họ cần có một nguồn vốn thƣờng xuyên hơn, ổn định hơn. Đó là lý do vì sao mà nguồn vốn của Ngân hàng lại đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cải thiện cuộc sống ngƣời dân, góp phần ổn định an ninh kinh tế, chính trị và trật tự an toàn xã hội,… Ở một phƣơng diện khác, tín dụng cấp cho các cá nhân cũng tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động, giúp họ an cƣ lạc nghiệp, ổn định kinh tế.
Điều này góp một phần dáng kể vào các chính sách vĩ mô của Chính phủ trong công cuộc xóa đói 10 giảm nghèo, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc 1. Các hình thức cho vay 1. Căn cứ theo đối tượng khách hàng - Cho vay khách hàng cá nhân: Đây là loại hình cho vay giành cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay vốn và đáp ứng đủ điều kiện vay vốn của ngân hàng Nhóm khách hàng này có số lƣợng lớn nhƣng nhu cầu vay những khoản nhỏ lẻ đòi hỏi ngân hàng phải có chiến lƣợc phù hợp, đa dạng hoá sản phẩm để tiếp cận và phục vụ khách hàng một cách tốt nhất đồng thời đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. - Cho vay khách hàng doanh nghiệp: Đây là loại hình cho vay dành cho khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức kinh tế… Thông thƣờng, đối tƣợng khách hàng này thƣờng có nhu cầu về vốn lớn và số lƣợng không nhiều đòi hỏi ngân hàng phải đặc biệt quan tâm đến từng khách hàng cụ thể, quản lý tốt nguồn vốn cho vay và xây dựng mối quan hệ tín dụng lâu dài đồng thời tìm kiếm những khách hàng mới, có tiềm năng.