Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nội dung tổng quan 1. Các công trình nghiên cứu dưới góc độ lý luận về đặc khu kinh tế Dưới góc độ lý luận, có một số công trình trong và ngoài nước đã nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của các đặc khu kinh tế như sau Thứ nhất, nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của ĐKKT, Đề tài KHCN cấp quốc gia KX 1. 7 6-1 “Xây dựng các khu kinh tế mở và các đặc khu kinh tế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, (2010) do PGS.
Võ Đại Lược là chủ trì, đã chỉ ra rằng, trước chiến tranh thế giới lần II, sự phát triển khu kinh tế tự do trên thế giới chậm chạp, số lượng không nhiều, chủ yếu tập trung ở những nước phát triển, loại hình và chức năng của nó cũng rất đơn giản, chỉ tập trung vào bảo quản, đóng gói và vận chuyển thành phẩm. au chiến tranh thế giới lần II, cùng với sự phát triển nhanh chóng của thương mại quốc tế, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng mạnh mẽ hơn, hoạt động kinh tế quốc tế ngày càng mạnh, khu kinh tế tự do trên thế giới phát triển nhanh chóng. Đặc biệt là những nước đang phát triển, một mặt thực hiện bảo hộ ngành công nghiệp dân tộc, thực hiện chính sách bảo hộ thương mại, mặt khác lại mở rộng xuất khẩu, phát triển kinh tế. Để thúc đẩy xuất khẩu, một là cần thực hiện chính sách thuế quan và các thể chế kinh tế hành chính khác biệt, hai là cần có cơ sở hạ tầng tốt, nhưng hầu hết các nước đang phát triển đều không thể cùng lúc thực hiện hai điều này trong phạm vi cả nước.
Do vậy các nước đang phát triển học tập cách làm và mô hình của các nước phát triển, hình thành các loại khu kinh tế tự do khác nhau ở những khu vực cảng khẩu và giao thông phát triển, nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển. Với sự góp mặt của các nước đang phát triển, khiến khu kinh tế tự do trên thế giới phát triển mạnh mẽ hơn. Cũng nghiên cứu về đặc điểm, vai trò của ĐKKT, trong cuốn sách “Khu kinh tế tự do - Những vấn đề lý luận và thực ti n” (2013), Cù Chí Lợi, chủ biên đã phân tích khái niệm khu kinh tế tự do cùng với những đặc điểm nổi bật và vai trò của nó. Ngoài ra, tác giả còn chú trọng phân tích các kết quả khảo sát thực ti n hệ thống các chính sách và thực tế phát triển của một số khu kinh tế (khu kinh tế đặc biệt, khu kinh tế mở, khu kinh tế cửa khẩu…) gắn với biển, cửa khẩu, hành lang kinh tế, có 9 cơ chế hoạt động gần giống với khu kinh tế tự do.
Tuỳ thuộc vào từng thể chế và chính sách thì đặc khu kinh tế có những tên gọi khác nhau, khu kinh tế tự do luôn là một bàn đạp kinh tế quan trọng được nhiều nước sử dụng nhằm tạo ra động lực phát triển cho một khu vực hay toàn bộ nền kinh tế. “Special Economic Zones: Performance, Lessons Learned, and Implications for Zone Development” là công trình nghiên cứu lớn về đặc khu kinh tế được World Bank công bố năm 2 (Đặc khu kinh tế: Hiệu suất, bài học kinh nghiệm và ý nghĩa cho phát triển vùng). Nghiên cứu phân tích định nghĩa vùng và xu hướng phát triển vùng, hệ thống hóa cơ sở lý luận và xu hướng phát triển khu vực, tăng trưởng vùng và các đặc điểm chính của vùng, xác định lợi ích, hiệu quả kinh tế, đặc điểm phát triển vùng và chi phí của khu kinh tế cũng như những tác động của nó tới kinh tế, xã hội và môi trường. Nghiên cứu cũng chỉ ra những bài học kinh nghiệm và những trở ngại thường gặp, đóng vai trò quyết định cho sự thành công của khu kinh tế đặc biệt.
Nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả kinh tế tổng thể của các khu kinh tế đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay của thế giới, cuối cùng rút ra bài học và gợi ý cho phép các nhà hoạch định chính sách thiết kế và tạo điều kiện phát triển tối đa hóa khu kinh tế đặc biệt. Vai trò của các khu chế xuất, khu thương mại tự do, đặc khu kinh tế trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế đang di n ra hiện nay đã được tác giả Phan Chánh Dưỡng khẳng định trong bài báo “Vai trò của khu chế xuất, khu thương mại tự do, đặc khu kinh tế trước thực trạng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay” đăng trên Tạp chí Phát triển kính tế, số tháng 6 2 2 Đặc khu kinh tế góp phần tạo ra thể chế kinh doanh tự do cho các ngành kinh tế, là phương thức thúc đẩy các nền kinh tế đang phát triển hội nhập vào thị trường chung trên thế giới. Thông qua đặc khu kinh tế, các chính sách pháp luật về kinh tế từng bước được tự do hoá, góp phần phát triển chính sách kinh doanh hướng ngoại. Trong tình trạng toàn cầu hoá, Đặc khu kinh tế được sử dụng như một công cụ để đưa nền kinh tế hội nhập với thế giới.
Theo Nguy n Minh Huyền và Mai Thị Hải trong bài Đặc khu kinh tế: Kinh nghiệm trên thế giới và những kỳ vọng cho Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, 4 2 1 Đặc khu kinh tế (khu kinh tế đặc biệt) là mô hình phát triển cao hơn dựa trên mô hình khu kinh tế cơ bản với các đặc trưng là không gian riêng biệt, môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi. Các đặc khu kinh tế được xây dựng và phát 10 triển không chỉ đơn thuần vì lợi ích kinh tế của riêng một khu vực, địa phương, mà còn tạo ra động lực phát triển kinh tế quốc gia thông qua việc thu hút các nguồn lực phát triển, mở rộng xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và quản trị, tạo việc làm. Trên thế giới, các đặc khu kinh tế đã được hình thành từ trước thế kỷ XV theo các mô hình khác nhau, ngày càng hoàn thiện với số lượng và quy mô lớn hơn. Tác giả Trịnh Mạnh Linh (2018) trong luận án thạc sỹ “ Phát triển các đặc khu kinh tế của Trung Quốc và bài học đối với Việt Nam” đã khẳng định vai trò của ĐKKT thông qua phân tích mô hình ĐKKT của Trung Quốc như sau: ĐKKT là các cực tăng trưởng, tuy nhiên ở mỗi giai đoạn, sự định vị này cũng khác nhau, phát triển dần theo bậc thang.
Trong giai đoạn ban đầu, các ĐKKT là các cực tăng trưởng của khu vực, dẫn dắt kinh tế khu vực phát triển; trong giai đoạn tiếp theo khi Trung Quốc xây dựng mạng lưới cực tăng trưởng trong cả nước thì các ĐKKT trở thành các cực tăng trưởng của quốc gia. Trong giai đoạn mới, khi Trung Quốc thực hiện chiến lược vươn ra thế giới, các ĐKKT mới được mong muốn sẽ trở thành các cực tăng trưởng ở phạm vi toàn cầu. Tiền thân của mô hình đặc khu kinh tế là các loại hình khu công nghiệp, khu kinh tế tự do. Khu kinh tế tự do thường có 3 loại chính 1- Khu kinh tế tự do có tính chất thương mại (chủ yếu là phát triển thương mại và dịch vụ phục vụ xuất nhập khẩu; 2- Khu kinh tế tự do có tính chất công nghiệp phát triển các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất - khu xuất khẩu tự do, khu công nghệ cao; 3- Các khu kinh tế tự do có tính chất tổng hợp phát triển các hoạt động sản xuất - kinh doanh đa ngành, bao gồm cả công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, tài chính, ngân hàng, nghiên cứu khoa học.
Thứ hai, nghiên cứu về đặc điểm, vai trò của đặc khu kinh tế. Mô hình đặc khu kinh tế với tiền thân là các khu công nghiệp và khu kinh tế tự do đã được ứng dụng tại nhiều quốc gia và có những đóng góp quan trọng đối với nền kinh tế các nước. Do đó, nghiên cứu về đặc khu kinh tế nói riêng và các loại hình khu kinh tế tự do nói chung cũng được tiến hành bởi nhiều nhà nghiên cứu đến từ các quốc gia trên thế giới. Thậm chí các tổ chức kinh tế lớn như ADB, WB …cũng dành sự quan tâm cho đề tài này.
Oborne (1 6) đã đánh giá hiệu quả của việc thành lập các đặc khu kinh tế đối với nền kinh tế và chỉ ra rằng, các đặc khu kinh tế được thành lập như một phần của chính sách mở cửa di n ra vào những năm 1 7. Đặc khu kinh tế góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài song cũng làm gia tăng chi phí xây dựng hạ tầng. 11 Madani (199 ) đã nghiên cứu về vai trò và tác động của các khu chế xuất. Tác giả đã đưa ra các lý lẽ về việc ủng hộ và chống lại các KCX thông qua nghiên cứu thực nghiệm, sử dụng phương pháp lợi ích- chi phí.
Tác giả nhận thấy rằng, trong hoàn cảnh thuận lợi và quản lý tốt, các KCX nói chung đạt được hai mục tiêu cơ bản là tạo việc làm và tăng thu ngoại hối. Bài viết “What’s So Special about Special Economic Zones? China’s National and Provincial-Level Development Zones” của tác giả April A. Tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra rằng sự cạnh tranh về vốn là một khía cạnh quan trọng của hệ thống kinh tế toàn cầu. Các quốc gia trên thế giới hiện này đều sửa dụng các khu kinh tế đặc biệt như là một công cụ thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và đạt được những mục tiêu kinh tế khác.
Tác giả đã đi sâu nghiên cứu và chỉ ra những điểm khác biệt giữa những mô hình đặc khu kinh tế của Trung Quốc, qua đó đánh giá tác động của các khu kinh tế tự do về FDI, quá trình hình thành vốn và sinh thái môi trường. Điều này chính là hai chủ đề chính của hội nghị ISA Châu Á – Thái bình Dương sự trỗi dậy của Trung Quốc và bản chất của sự biến đổi kinh tế toàn cầu. Hồ Diệu Mai (2 1 ) đã nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và phát triển đặc khu kinh tế của một số quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, UAE, Ấn Độ, Philipines, từ đó rút ra một số kinh nghiệm tham khảo đối với việc quản lý và phát triển đặc khu kinh tế tại Việt Nam.