phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có kết cấu gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn cấp huyện. - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. - Chƣơng 3: Thực trạng phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. - Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn huyện Hoài Đức đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CỤM CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển cụm công nghiệp Trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề phát triển KCN, khu chế xuất, khu kinh tế, CCN, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam và một số địa phƣơng. - Đề tài “ Phát triển cụm công nghiệp Tây An trên địa bàn huyện Duy Xuyên” của tác giả Mai Thị Quế Điệp (2012) đã đề cập những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển CCN, đánh giá những khó khăn tồn tại và rút ra những thành tựu trong một CCN cụ thể. - Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật Quản trị kinh doanh “Một số giải pháp phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội" của Phạm Đức Thắng (2013) đã phân tích và đánh giá thực trạng phát triển CCN trên địa bàn thành phố Hà Nội, tìm ra nguyên nhân tác động tích cực và hạn chế của phát triển CCN.
Đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển CCN nhằm phát huy mặt tích cực, ngăn ngừa hạn chế mặt tiêu cực trong xây dựng và phát triển các CCN của Hà Nội. - Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế công nghiệp“Xây dựng cơ sở hạ tấng các cụm công nghiệp ở Hà Nội” của Nguyễn Đình Trung (2012) Luận giải những vấn đề về quan niệm, cơ sở hạ tầng để phù hợp với CCN. Xây dựng các nhóm tiêu chí phản ánh tình hình xây dựng, các nhân tố chủ yếu ảnh hƣởng đến xây dựng cơ sở hạ tầng CCN, Từ đó đề ra một số biện pháp nhằm đẩy nhanh và tăng cƣờng hiệu quả hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng CCN ở Hà Nội. - Lê Thế Giới (2009), tiếp cận lý thuyết CCN và hệ sinh thái kinh doanh trong nghiên cứu chính sách thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam, Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng – số 1 (30).
Bài viết bàn về các luận điểm cơ bản của lý thuyết CCN và lý thuyết hệ sinh thái kinh doanh trong phát 6 triển các lợi thế cạnh tranh công nghiệp ở cấp độ quốc gia, vùng và địa phƣơng. Từ đó, phân tích làm rõ mối quan hệ giữa công nghiệp hỗ trợ với cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh. Trên cơ sở nhận diện các nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam, tác giả đƣa ra các khuyến nghị trong nghiên cứu chính sách thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ. - Tác giả Vũ Hoàng Nam (2014) với bài viết” Chìa khóa để thay đổi nhận thức và cách thức quản trị ở các cơ sở sản xuất trong các CCN làng nghề” Tạp trí Kinh tế & Phát triển số 204 (61).
Nghiên cứu này cho thấy các kiến thức và kỹ năng quản trị doanh nghiệp mới, hiện đại là chìa khóa giúp các cơ sở sản xuất thay đổi tƣ duy cũng nhƣ các cách thức quản trị và mở ra con đƣờng phát triển bền vững cho các CCN làng nghề. - Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển Khu, cụm điểm công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã khái quát hóa những chủ trƣơng, chính sách của UBND thành phố Hà Nội trong việc xây dựng và phát triển khu, CCN trên địa bàn Hà Nội nói chung đến năm 2020. - Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội huyện Hoài Đức đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã trình bày phƣơng hƣớng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội huyện Hoài Đức đến năm 2020 nói chung cũng nhƣ phƣơng hƣớng, mục tiêu phát triển công nghiệp - TTCN huyện Hoài Đức đến năm 2020 trong đó có phát triển CCN. Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã có nhiều đòng góp khoa học và tổng kết thực tiễn phong phú, những cách tiếp cận và phƣơng pháp tiếp cận tập trung vào giải quyết cụ thể về CNH, HĐH, nông nghiệp, nông thôn, những vấn đề về phát triển các KCN, khu chế xuất, CCN.
Tuy nhiên chƣa có công trình nghiên cứu nào đi sâu và cụ thể về việc phát triển CCN huyện Hoài Đức trong quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa. Ở đề tài này chúng tôi nghiên cứu phát triển CCN trong quá trình CNH, HĐH ở một huyện cụ thể của thành phố Hà Nội. Đó là nghiên cứu những nguyên lý chung, 7 tổng hợp, phân tích đánh giá quá trình phát triển cụm công nghiệp từ đó vận dụng vào việc phát triển cụm công nghiệp gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ sở lý luận về phát triển cụm công nghiệp 1.
Khái niệm, phân loại và phân biệt với KCN, KCX, điểm công nghiệp 1. Khái niệm cụm công nghiệp Hiện nay có nhiều cách hiểu không hoàn toàn giống nhau về CCN. Khái niệm Cụm công nghiệp “Geographical clusters” hay “Industrial districts” xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 bởi Alpred Marshall, xuất phát từ việc nghiên cứu của ông về sự tập trung sản xuất công nghiệp ở miền Bắc nƣớc Anh. Theo Marshall, các CCN có ba lợi thế cơ bản từ sự tập trung: Sự lan toả của thông tin; sự chuyên môn hoá và phân công lao động giữa các cơ sở với nhau và sự phát triển của thị trƣờng lao động dạng có tay nghề cao.
Khái niệm CCN theo cách tiếp cận của Michael Porter. CCN là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty và tổ chức có liên quan trong một lĩnh vực cụ thể nào đó và bao gồm các ngành gắn kết với nhau. CCN tập trung các nhà cung cấp đầu vào, các khách hàng tiêu thụ sản phẩm, cũng nhƣ các nhà sản xuất các sản phẩm khác có liên quan. Các CCN cũng có thể bao gồm các tổ chức nhƣ trƣờng đại học, viện nghiên cứu, trƣờng đào tạo nghề và các hiệp hội thƣơng mại.
Theo OECD (Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế): các CCN có thể đƣợc coi “là hệ thống sản xuất gồm có các hãng phụ thuộc lẫn nhau (các nhà cung cấp chuyên nghiệp), các tổ chức đào tạo,các tổ chức trung gian và khách hàng, liên kết với nhau trong một hệ thống sản xuất gia tăng giá trị.” Ở Việt Nam, từ khi có Quyết định 132/2000/QĐ- TTg ngày 24/11/2000 về một số chính sách, khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đến trƣớc khi có quyết định 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009, CCN đƣợc hiểu và gọi tên rất khác nhau giữa các địa phƣơng trong cả nƣớc, nơi thì gọi là CCN làng nghề, nơi gọi là Cụm công nghiệp nông thôn, nơi gọi là Cụm công nghiệp vừa và vừa nhỏ… Theo quan điểm của tỉnh Bắc Ninh, CCN là nơi tập trung các đơn vị chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo 8 quyết định của UBND tỉnh. Bắc Ninh còn sử dụng khái niệm “Cụm công nghiệp làng nghề” để nói đến các KCN nhỏ thuộc phạm vi quản lý của tỉnh. Theo Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tƣớng Chính phủ : “Cụm công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống; đƣợc đầu tƣ xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phƣơng vào đầu tƣ sản xuất, kinh doanh; do Ủy ban nhân dân các Tỉnh quyết định thành lập”. Theo Quyết định số 44/2010/QĐ-UBND ngày 10/9/2010 của UBND thành phố Hà Nội: “Cụm công nghiệp là nơi tập trung sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, có hàng rào tách biệt, không có dân cƣ sinh sống; có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật chung đƣợc xây dựng đồng bộ, đảm bảo đầy đủ các điều kiện để sản xuất kinh doanh thuận lợi, an toàn và bền vững” Cụm công nghiệp có quy mô tối đa không quá 50ha (trƣờng hợp mở rộng tối đa không quá 75ha) do UBND thành phố quyết định thành lập đƣợc đầu tƣ xây dựng nhằm chủ yếu thu hút các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa; các cá nhân, hộ sản xuất tại các làng nghề; di dời các cơ sở sản xuất không phù hợp quy hoạch, gây ô nhiễm môi trƣờng trong các khu dân cƣ vào đầu tƣ sản xuất kinh doanh.
Khái niệm cụm công nghiệp làng nghề CCN làng nghề là cụm công nghiệp đƣợc đầu tƣ xây dựng nhằm mục tiêu phục vụ nhu cầu mở rộng mặt bằng sản xuất của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề (doanh nghiệp làng nghề, HTX, hộ sản xuất), phát triển nghề, làng nghề và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trƣờng làng nghề (Quyết định 44/2010/QĐ-UBND) Hiện nay, nhằm tránh hiểu nhầm khái niệm cụm công nghiệp làng nghề và làng nghề, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 18/9/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 44/2020/QĐ-UBND. Theo đó, cụm công nghiệp làng nghề đƣợc đổi tên thành cụm tiểu thủ công nghiệp (cụm TTCN) Qua các khái niệm về CCN, cách hiểu về CCN có điểm giống nhau và thống nhất là: 9 - CCN là tập trung về mặt địa lý các cơ sở sản xuất kinh doanh, các tổ chức trong một khu vực địa lý, có ranh giới riêng, không có dân cƣ sinh sống. - CCN là sự liên kết giữa các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất - kinh doanh, các hộ gia đình sản xuất, các tổ chức.