Luận văn phát triển công nghiệp phụ trợ gắn kinh tế tri thức Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phát triển công nghiệp phụ trợ gắn kinh tế tri thức tại Việt Nam. Phân tích thực trạng, giải pháp thúc đẩy ngành công nghiệp.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị

2014

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với kinh tế tri thức ở Việt Nam

Phát triển công nghiệp phụ trợ là một trong những trụ cột then chốt để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền kinh tế tri thức tại Việt Nam. Theo luận văn của Nguyễn Thị Hương (2014), công nghiệp phụ trợ không chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho ngành công nghiệp chính mà còn là nền tảng để nâng cao năng lực nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và tích hợp vào chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, việc gắn kết phát triển công nghiệp phụ trợ với kinh tế tri thức trở thành yêu cầu tất yếu. Kinh tế tri thức dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo – những yếu tố mà ngành công nghiệp phụ trợ cần phải sở hữu để cạnh tranh và phát triển bền vững. Do đó, chiến lược phát triển công nghiệp phụ trợ cần được định hướng theo hướng tri thức hóa: đầu tư vào R&D, nâng cao trình độ lao động, ứng dụng công nghệ số và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu mà còn thúc đẩy quá trình hình thành nền kinh tế tri thức tại Việt Nam.

1.1. Khái niệm công nghiệp phụ trợ và vai trò trong nền kinh tế hiện đại

Công nghiệp phụ trợ là ngành cung cấp linh kiện, phụ tùng, nguyên vật liệu và dịch vụ kỹ thuật cho các ngành công nghiệp chính như ô tô, điện tử, dệt may. Theo Bộ Công Thương, ngành này đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao giá trị gia tăng nội địa và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Trong bối cảnh hội nhập, công nghiệp phụ trợ còn là cầu nối để doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu.

1.2. Đặc điểm cốt lõi của kinh tế tri thức và mối liên hệ với công nghiệp phụ trợ

Kinh tế tri thức là mô hình kinh tế dựa trên tri thức, công nghệ thông tin và đổi mới sáng tạo. Đặc điểm nổi bật gồm: lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao, đầu tư mạnh vào R&D và ứng dụng công nghệ cao. Mối liên hệ giữa kinh tế tri thứccông nghiệp phụ trợ thể hiện qua việc ngành phụ trợ cần tri thức để thiết kế, sản xuất linh kiện chính xác, thông minh và tích hợp công nghệ – yếu tố không thể thiếu trong chuỗi giá trị hiện đại.

II. Thách thức lớn khi phát triển công nghiệp phụ trợ trong nền kinh tế tri thức

Mặc dù được xác định là ngành then chốt, công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng trong quá trình hội nhập và chuyển đổi số. Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2009), quy mô doanh nghiệp nhỏ, năng lực công nghệ yếu và thiếu liên kết chuỗi là những rào cản chính. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế tri thức đòi hỏi tốc độ đổi mới nhanh và trình độ kỹ thuật cao, nhiều doanh nghiệp phụ trợ vẫn lạc hậu về máy móc, thiếu kỹ năng số và chưa tiếp cận được các nền tảng công nghệ 4.0. Tỷ lệ nội địa hóa thấp – chỉ khoảng 20-30% trong ngành điện tử và dưới 10% trong ô tô – cho thấy sự phụ thuộc lớn vào nhập khẩu linh kiện. Điều này không chỉ làm giảm giá trị gia tăng trong nước mà còn cản trở quá trình tích lũy tri thức và công nghệ. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ chưa đồng bộ, thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là nguyên nhân khiến phát triển công nghiệp phụ trợ chưa theo kịp yêu cầu của kinh tế tri thức.

2.1. Hạn chế về năng lực công nghệ và trình độ lao động

Đa số doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, sử dụng công nghệ lạc hậu từ thập niên 1990–2000. Lao động thiếu kỹ năng kỹ thuật cao và khả năng ứng dụng công nghệ số, dẫn đến năng suất thấp và khó đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Đây là rào cản lớn trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu – nơi yêu cầu cao về độ chính xác, tự động hóa và tích hợp hệ thống.

2.2. Thiếu liên kết chuỗi và chính sách hỗ trợ chưa hiệu quả

Mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa còn yếu. Nhiều doanh nghiệp FDI nhập khẩu linh kiện từ nước ngoài thay vì mua trong nước do lo ngại về chất lượng và độ tin cậy. Bên cạnh đó, chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ thiếu tính đột phá, chưa tạo được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hay cơ chế ưu đãi thực chất cho R&D và đào tạo nhân lực kinh tế tri thức.

III. Phương pháp phát triển công nghiệp phụ trợ theo hướng kinh tế tri thức

Để phát triển công nghiệp phụ trợ hiệu quả trong bối cảnh kinh tế tri thức, cần áp dụng đồng bộ các phương pháp chiến lược. Trước hết, cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, trong đó doanh nghiệp phụ trợ được hỗ trợ tiếp cận công nghệ, dữ liệu và thị trường. Chính phủ nên thúc đẩy các trung tâm ươm tạo công nghệ, khu công nghiệp thông minh và chương trình chuyển giao tri thức từ viện nghiên cứu sang doanh nghiệp. Thứ hai, đầu tư mạnh vào đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là kỹ sư công nghệ, kỹ thuật số và quản trị chuỗi cung ứng. Thứ ba, cần có chính sách ưu đãi cụ thể cho doanh nghiệp đầu tư vào R&D, ứng dụng AI, IoT và tự động hóa. Theo Nguyễn Quang Hồng (2009), việc hỗ trợ doanh nghiệp nội địa tiếp cận công nghệ từ FDI là giải pháp then chốt. Cuối cùng, cần xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và hệ thống đánh giá năng lực doanh nghiệp phụ trợ để tạo niềm tin cho đối tác quốc tế. Những phương pháp này không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn thúc đẩy quá trình hình thành kinh tế tri thức tại Việt Nam.

3.1. Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp phụ trợ

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bao gồm viện nghiên cứu, trường đại học, quỹ đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp. Việc kết nối các thành phần này giúp doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ tiếp cận tri thức mới, thử nghiệm công nghệ và phát triển sản phẩm. Ví dụ, mô hình tại Hàn Quốc và Singapore cho thấy hiệu quả rõ rệt khi doanh nghiệp được hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ hệ sinh thái này.

3.2. Chính sách ưu đãi R D và chuyển đổi số cho ngành phụ trợ

Cần có cơ chế miễn giảm thuế cho chi tiêu R&D, hỗ trợ vay vốn lãi suất thấp cho đầu tư máy móc thông minh và đào tạo kỹ năng số. Đồng thời, xây dựng nền tảng số quốc gia để doanh nghiệp nhỏ có thể kết nối, chia sẻ dữ liệu và tham gia chuỗi cung ứng số – yếu tố cốt lõi của kinh tế tri thức.

IV. Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với kinh tế tri thức

Nhiều quốc gia đã thành công trong việc phát triển công nghiệp phụ trợ song hành với kinh tế tri thức, cung cấp bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam. Hàn Quốc là điển hình khi đầu tư mạnh vào giáo dục kỹ thuật, xây dựng các cụm công nghiệp chuyên sâu và hỗ trợ doanh nghiệp SME tham gia vào chuỗi cung ứng của Samsung, LG. Nhật Bản chú trọng vào “kaizen” – cải tiến liên tục – và đào tạo kỹ năng tay nghề cao cho lao động. Đức phát triển mô hình “Industry 4.0”, trong đó doanh nghiệp phụ trợ được tích hợp vào hệ thống sản xuất thông minh nhờ chuẩn hóa dữ liệu và tự động hóa. Các quốc gia này đều có điểm chung: chính sách nhất quán, đầu tư vào con người và công nghệ, cùng cơ chế liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp lớn và SME. Những kinh nghiệm quốc tế này cho thấy rằng công nghiệp phụ trợ không thể phát triển rời rạc mà phải là một phần của chiến lược quốc gia về kinh tế tri thức.

4.1. Mô hình Hàn Quốc Hỗ trợ SME tham gia chuỗi toàn cầu

Chính phủ Hàn Quốc thành lập các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cho SME, cung cấp máy móc hiện đại và đào tạo kỹ sư. Nhờ đó, hàng nghìn doanh nghiệp phụ trợ đã trở thành nhà cung cấp cho các tập đoàn lớn, đồng thời tích lũy tri thức và công nghệ – nền tảng của kinh tế tri thức.

4.2. Bài học từ Đức Tích hợp Industry 4.0 vào ngành phụ trợ

Đức thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành công nghiệp phụ trợ thông qua chương trình “Plattform Industrie 4.0”, hỗ trợ SME ứng dụng IoT, AI và dữ liệu lớn. Điều này giúp nâng cao năng suất và khả năng tùy biến sản phẩm – đặc trưng cốt lõi của kinh tế tri thức.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam

Các nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam cho thấy những tín hiệu tích cực trong việc phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với kinh tế tri thức. Theo luận văn của Nguyễn Thị Hương (2014), một số doanh nghiệp như VSIP, Renesas Việt Nam hay các nhà cung cấp cho Samsung đã bắt đầu đầu tư vào tự động hóa và đào tạo kỹ sư. Tỷ lệ nội địa hóa trong ngành điện tử đã tăng từ 15% (2010) lên khoảng 35% (2020) nhờ chính sách thu hút FDI và hỗ trợ kỹ thuật. Tuy nhiên, kết quả vẫn chưa đồng đều. Các ngành như ô tô, cơ khí vẫn giậm chân do thiếu chính sách đột phá. Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Công (2010) cũng chỉ ra rằng doanh nghiệp có tiếp cận tri thức và công nghệ cao thường có năng suất lao động cao hơn 2–3 lần. Điều này khẳng định mối liên hệ trực tiếp giữa kinh tế tri thức và hiệu quả của công nghiệp phụ trợ. Do đó, cần nhân rộng các mô hình thành công và xây dựng lộ trình chuyển đổi rõ ràng cho toàn ngành.

5.1. Kết quả đạt được trong ngành điện tử và dệt may

Ngành điện tử ghi nhận sự tham gia của hàng trăm doanh nghiệp phụ trợ nội địa vào chuỗi cung ứng Samsung, LG. Nhiều doanh nghiệp đã đạt chứng nhận ISO, áp dụng ERP và đào tạo kỹ sư phần mềm – minh chứng cho sự hình thành kinh tế tri thức trong thực tiễn.

5.2. Hạn chế trong ngành cơ khí và ô tô

Ngành cơ khí và ô tô vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu do thiếu đầu tư vào R&D, máy móc CNC và nhân lực kỹ thuật cao. Tỷ lệ nội địa hóa dưới 10% cho thấy khoảng cách lớn giữa thực tiễn và yêu cầu của kinh tế tri thức.

VI. Tương lai của công nghiệp phụ trợ trong nền kinh tế tri thức Việt Nam

Tương lai của công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam gắn liền với quá trình chuyển đổi sang kinh tế tri thức. Dự báo đến năm 2030, khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các hiệp định thương mại thế hệ mới (CPTPP, EVFTA), nhu cầu về linh kiện thông minh, sản xuất xanh và chuỗi cung ứng số sẽ tăng mạnh. Do đó, phát triển công nghiệp phụ trợ phải đi đôi với chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Các giải pháp dài hạn bao gồm: xây dựng chiến lược quốc gia về công nghiệp phụ trợ đến 2035, thành lập quỹ đổi mới sáng tạo cho SME, và phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo chuẩn quốc tế. Nếu thực hiện đồng bộ, công nghiệp phụ trợ không chỉ trở thành trụ cột công nghiệp mà còn là động lực then chốt để Việt Nam hình thành kinh tế tri thức thành công.

6.1. Chiến lược quốc gia và lộ trình chuyển đổi đến 2035

Cần ban hành chiến lược mới thay thế Quy hoạch 2020, với mục tiêu cụ thể: 50% doanh nghiệp phụ trợ ứng dụng công nghệ 4.0, 40% sản phẩm nội địa hóa trong ngành điện tử và ô tô, và 30% doanh nghiệp có hoạt động R&D – những chỉ báo quan trọng của kinh tế tri thức.

6.2. Vai trò của doanh nghiệp và nhà nước trong tương lai

Nhà nước đóng vai trò kiến tạo hệ sinh thái, trong khi doanh nghiệp phải chủ động đổi mới. Hợp tác công – tư trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ sẽ là chìa khóa để phát triển công nghiệp phụ trợ bền vững trong kinh tế tri thức.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn thạc sĩ phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với quá trình hình thành kinh tế tri thức ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU 1. L¥ do chon dé t: Tại văn kiện Dai héi X, Dang ta đã nhắn mạnh: “Đây mạnh công nghiệp hoa, hiện đại hóa gắn với từng bước p. bát triển kinh tế trí thức”. 1Ton nữa, mục tiêu của rước ta đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp, do vậy yêu cầu trước hết là phải thúc dây ngành công nghiệp chính phát triển , trong đỏ phải dặc biệt chủ trọng, đến ngành công nghiệp phụ Irợ (ƠNPT).

Bởi nó dược coi là nền tảng của ngàn: công nghiệp nói chúng. Ngành công nghiệp phụ trợ phát. triển sẽ tạo điều kiện thúc đấy các ngành công nghiệp chính và góp phân vào việc hoàn thành mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp và tiến tới hình thành xu hướng phát triển kinh lế trí thúc ở Việt Nam Hiện nay, trong điều kiệu phát triển mạnh tế của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và quả trình toan câu hỏa kinh tế mở rộng hiện nay _, các nên kinh tế của quốc gia, khu vực đang có xu hướng hợp nhất và trở thành mộtb — ö phận, một hệ thông quan trọng trong mang lưới hợp tác phân công lao động toàn cầu. Mợi quốc gia muốn phát triển phải gắn phân công lao động quốc gia vào hệ thông phân ông lao động quốc tẻ.

Khi trình độ phân công lao động q uiốc tế và phân chia quá trình. sản xuất đạt đến mức độ cao, không một sản phẩm công nghiệp nào được sản xuất tại một không gian , dịa diễm hay một công ty duy nhất của một quốc gia ; chúng, được phân chia thành nhiều công doạn - ở các công ty cắm nhành tại dịa phương —, quốc gia, châu lục khác nhau. Ngành công nghiệp hỗ trợ ra đời như muội. tất 'phát từ đôi hỏi của nên sản xuất công nghiệp mới với nội dụng cơ ban lả chuyên: môn hỏa sâu sắc gác công doạn của quả trình sản xuất.

Đổ góp phần dưa nền kinh tế nước la sánh vai với các nước tiên tiến trên thể giới thì việc phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với kinh tế trí thức là hết s c can thiết bởi nó có vai trò quan trọng nhšm giúp nước ta phát triển một cách nhanh. chóng và bên vững. Chứng ta sẽ tận dụng được những thành tựu của cuộc cách. rang khoa học công nghệ dễ ứng dụng vào sẵn xuất „ làm cho nên kinh tế ngày căng chỗ động, tăng trưởng bên vững vả tặng sức cạnh tranh, giải quyết được ván đề việc lam che người lao động; vẫn để ö nhiễm và báo vệ mồi trưởng - Thue tế, những năm qua ở Việt Nam „ hệ thông Luật pháp và chỉnh sách chưa đủ mạnh để tạo điều kiện về môi trường pháp lý, định hướng khuyên khích đầu tư , phát triển ngành công nghiệp phụ trợ.

Hiện ngành CNET còn nou tế, quy mô nhỏ, cạnh tranh thấp, chưa dáp ứng được nhu cầu của ngành công nghiệp c hé tạo và lắp ráp. Phát triển CNPT là vẫn đề mới , phạm vi rộng và nội dung phức tạp liên quan đến các lĩnh vực sẵn xuất và địch vụ công nghiệp _. Trong khi döở: Việt Nam, với nguồn lực hạn hẹp, quy mô các ngành kinh tế h ạn chế, phát triển các ngành CKPT đòi hỏi nguẫn vốn lớn , công nghệ cao, lao động có chất lượng, đây là những khó khăn đối với nước la. Do vậy, để phát triển kinh lễ phủ hợp quá trình hội nhập quốc tế hiện nay thì lựa c hợn phát triển CNPT gắn phát triển kinh tế tri thúc — trở thành.

một vẫn để mang tỉnh khách quan vá thiết thực. Đây là một vẫn đẻ cáp thiết cá về lý kiện vã thực tiễn, với ý nghĩa đó lác giả chọn để tài: “Phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với quả trình hình thành kinh tế trí thức ở Việt Nam ” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành kinh tê chính trị 2. Tình hình nghiên cứu Phát triển công nghiệp phụ trợ được coi là một chiến lược phát — ïên công nghiệp của ruột số quốc gia trên thế giới như : Nhật Bán, Thái Lan, Malaysia. Vì vậy, vàn dễ công nghiệp phụ trợ đã dược dễ cập dến từ thập niên 60 cua thé ky XX ở Nhật Hán và giữa thập miền 80 ở các nước Dông Á.

Tuy nhiên ở Việt Nam công nghiệp phụ trợ còn tương đối mới mẻ, chỉ mới được đề cập đến từ những năm 2000 trở lại dây, Do dé, một số vận dễ về công nghiệp phụ trợ mới bước dâu được dễ cập đến trong các công trình nghiên củu, các bài viết của một số nhà khoa học với nhiều +hia cạnh, góc độ, phạm vi khác nhau “tháng 3 năm 2004, bảo cảo nghiên cửu điều tra ''Xây dựng và đây mạnh công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam” đo IETRO thực biện được coi [a tai liệu đâu tiên đánh giả về công nghiệp hỗ Irợ ở Việt Nam Năm 2005, G5. lrần Dăng Thọ, trong “Biến động kinh tế Dông A va con đường gông nghiệp hỏa ở Việt Nam” đã phân tích con đường phái tri ông nghiệp 3. Quan điểm, phương hướng và mục tiêu nhát triển công nghiệp phu trợ ở Việt Nam - 81 3.1 Quan điểm phat hiển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam „81 3.2 Phương hướng phát triển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam - 35 3.3 Mục tiêu phát triển công nghiệp phụ trợ dén nfm 2020 va tim nhìn đến nim 2030 89 32 pháp phút triển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam gắn với quá trình bình thành kinh tế trì thức ở Việt Nam.1 Nhóm giải pháp chung 90 3.2 Nhém giti pháp phát triển CNPT ở các engin cụ thỂ. co, TÔI KẾT LUẬN - 18 TẢI LIỆU THAM KHẢO.

eerasrreorooo TU LỜI MỞ ĐẦU 1. L¥ do chon dé t: Tại văn kiện Dai héi X, Dang ta đã nhắn mạnh: “Đây mạnh công nghiệp hoa, hiện đại hóa gắn với từng bước p. bát triển kinh tế trí thức”. 1Ton nữa, mục tiêu của rước ta đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp, do vậy yêu cầu trước hết là phải thúc dây ngành công nghiệp chính phát triển , trong đỏ phải dặc biệt chủ trọng, đến ngành công nghiệp phụ Irợ (ƠNPT).

Bởi nó dược coi là nền tảng của ngàn: công nghiệp nói chúng. Ngành công nghiệp phụ trợ phát. triển sẽ tạo điều kiện thúc đấy các ngành công nghiệp chính và góp phân vào việc hoàn thành mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp và tiến tới hình thành xu hướng phát triển kinh lế trí thúc ở Việt Nam Hiện nay, trong điều kiệu phát triển mạnh tế của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và quả trình toan câu hỏa kinh tế mở rộng hiện nay _, các nên kinh tế của quốc gia, khu vực đang có xu hướng hợp nhất và trở thành mộtb — ö phận, một hệ thông quan trọng trong mang lưới hợp tác phân công lao động toàn cầu. Mợi quốc gia muốn phát triển phải gắn phân công lao động quốc gia vào hệ thông phân ông lao động quốc tẻ.

Khi trình độ phân công lao động q uiốc tế và phân chia quá trình. sản xuất đạt đến mức độ cao, không một sản phẩm công nghiệp nào được sản xuất tại một không gian , dịa diễm hay một công ty duy nhất của một quốc gia ; chúng, được phân chia thành nhiều công doạn - ở các công ty cắm nhành tại dịa phương —, quốc gia, châu lục khác nhau. Ngành công nghiệp hỗ trợ ra đời như muội. tất 'phát từ đôi hỏi của nên sản xuất công nghiệp mới với nội dụng cơ ban lả chuyên: môn hỏa sâu sắc gác công doạn của quả trình sản xuất.

Đổ góp phần dưa nền kinh tế nước la sánh vai với các nước tiên tiến trên thể giới thì việc phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với kinh tế trí thức là hết s c can thiết bởi nó có vai trò quan trọng nhšm giúp nước ta phát triển một cách nhanh. chóng và bên vững. Chứng ta sẽ tận dụng được những thành tựu của cuộc cách. rang khoa học công nghệ dễ ứng dụng vào sẵn xuất „ làm cho nên kinh tế ngày căng chỗ động, tăng trưởng bên vững vả tặng sức cạnh tranh, giải quyết được ván đề việc lam che người lao động; vẫn để ö nhiễm và báo vệ mồi trưởng - 7.

Kat chu dé tai Ngoài phần mỡ đầu, kết luận, danh mục tải liệu tham khảo và phụ lục để tải có kết sầu gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiếnvề phát riển công nghiệp phụ trợ gắn với quả trình hình thành kinh tế trí thúc ở V Chuong 2: Thue trang phải triển công nghiệp phụ trợ gắn với quả trình hình thành kinh tế trí thức ở Việt Kam. Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với quá trình hình thành kinh tế Irì thức ở Việt Nam 10 Luận văn nghiên cứu dựa trên cở sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, dặc biệt là lý luận về phân công lao động. , tư tưởng LIỗ Chỉ Minh và quan điểm chủ trương, của Đăng, chính sách của Nhà nước về phát triển. công nghiệp phụ trợ và kiii lễ tí thức %2 Phương pháp nghiên cửu ~ Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiền cứu của kinh lế chỉnh trị đó là phương pháp đuy vật biện chứng, „ phương pháp duy vật lịch sử , phương pháp logic két hop véi lich sit, ~ Ngoài ra, trong qua tnn h nghiên cứu„ tác giả sử đụng kết hợp các phương, pháp nghiên cửa khoa học như : phân tích, tổng hợp, thông kê so sánh, gắn lý luận.

với đảnh giả thực tiễn, 6. Đông gáp khoa học của đề tài - Hệ thông hóa lý luận về công nghiệp phụ trợ và kinht ế trì thức: khái niệm, đặc điểm của CNPT và kinh tế trí thức, tiêu chỉ đánh giá sự phát triển công nghiệp phụ trợ. - Phân tích mỏi quan hệ giữa công nghiệp phụ trợ với kinh tế trí thức và những thân tổ ảnh hư ởng đến sự phát. triển công nghiệp phụ ợ gắn với quá Irình hình thành kinh tế trí thúc.

- Nêu kinh nghiệm phát triển công nghiệp phụ trợ của một số quốc gia điến tảnh trên thể giới và rút ra một số bài hoe kinh nghỉ êm đối với Việt Nam để phát triển công nghiệp phụ trợ gắn với quả trình hình thành kinh tế trị thức -_ Phân tích những cơ hội và thách thức đối với công nghiệp phụ trợ mà quả trình hình thành kinh tế trí thức tạo ra cho Việt Nam. - Đề xuất, luận giải quan điểm và giải pháp thúc đẩy công nghiệp phụ trợ Việt Tam phát triển trong điều kiện hình thành kinh tẻ trí thức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ