phần mở đầu và kết luận, luận văn này đƣợc chia thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển CNPT Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng phát triển CNPT trong lĩnh vực Điện tử tại Việt Nam hiện nay Chƣơng 4.
Quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển CNPT trong lĩnh vực Điện tử ở Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển CNPT 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Ở nhiều nƣớc trên thế giới, vấn đề phát triển CNPT, đặc biệt là CNPT trong các ngành công nghiệp chủ chốt nhƣ Điện tử, Cơ khí, Da giầy là chủ đề nghiên cứu của nhiều môn khoa học. Khái niệm CNPT lần đầu đƣợc xuất hiện tại Nhật Bản vào năm 1985 và đã có rất nhiều nghiên cứu ra đời nhằm phân tích các đặc điểm cũng nhƣ khả năng phát triển của các ngành CNPT.
Cụ thể, tình hình thuê ngoài và các nhà cung ứng cho các doanh nghiệp của Nhật Bản đã đƣợc phân tích, đánh giá trong “Chi nhánh các nhà lắp ráp Nhật Bản ở Châu Á” (Japanese-Affiliated Manufactures in Asia) do Tổ chức xúc tiến mậu dịch Nhật Bản (JETRO) thực hiện năm 2003. Báo cáo chỉ ra rằng, chi nhánh các tập đoàn Nhật Bản ở châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Ma-lay-xi-a đã sử dụng hệ thống thầu phụ một cách rất hiệu quả với sự giúp sức của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tƣ của Nhật Bản. Liên quan đến CNPT cho ngành công nghiệp điện tử, Goh Ban Lee (1998), “Liên kết giữa các TĐĐQG và các ngành CNHT nội địa” (Linkage between the Multinational Corporations and Local Supporting Industries) đã đánh giá cao vai trò của chính sách phát triển nguồn nhân lực và các chính sách hỗ trợ liên kết của chính phủ Malayxia giữa các tập đoàn điện tử gia dụng của Nhật Bản với các doanh nghiệp nội địa sản xuất linh kiện cho ngành điện tử. Halim Mohd Noor, Roger Clarke, Nigel Driffield (2002), “Multinational cooperation and technological effort by local firm: a case study of the Malaysia Electronics and Electrical Industry” (Tập đoàn đa quốc gia và nỗ lực công nghệ của doanh nghiệp địa phƣơng: trƣờng hợp nghiên cứu ngành công nghiệp điện và điện tử Malaysia).
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những giải pháp phát triển CNPT 5 cho ngành CNĐT và đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan trọng từ phía chính phủ trong việc hỗ trợ đổi mới và phát huy sáng tạo của các doanh nghiệp nội địa nhằm cung ứng hỗ trợ cho ngành điện tử phát triển. Năm 2003, tổ chức Năng suất châu Á (Asian productive organization) đã đúc kết kinh nghiệm phát triển CNPT trong cuốn: “Đẩy mạnh CNPT: các kinh nghiệm của châu Á” (Strengthening of supporting industries: Asian experiences). Đây là tài liệu hữu ích cho các nƣớc đang phát triển về chính sách phát triển CNPT qua các thời kì ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan với một số nội dung chính: thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài vào phát triển CNPT, quy định về tỷ lệ nội địa hóa và các hỗ trợ mạnh mẽ hiệu quả từ phía chính phủ dành cho liên kết doanh nghiệp nhƣ là điều kiện tiên quyết để phát triển CNPT. Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), (2004), tổng hợp, xây dựng báo cáo điều tra khảo sát: “Survey report on overseas business operations by Japanese manufacturing companies” (Báo cáo khảo sát các bộ phận ở nƣớc ngoài của các công ty lắp ráp Nhật Bản).
Báo cáo đã phân tích thực tế quá trình sản xuất của chi nhánh thuộc các tập đoàn Nhật Bản ở châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ đƣợc hình thành với vai trò mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tƣ từ Nhật Bản. Đó chính là các doanh nghiệp phụ trợ. Hệ thống thầu phụ này cung cấp các nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng cho các nhà sản xuất, lắp ráp tại các nƣớc châu Á nhƣ: Thái Lan, Malaysia, Indonesia. Hệ thống thầu phụ trong lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử đã có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển ngành CNĐT.
Trong “CNPT ở Việt Nam từ định hướng đến kế hoạch hành động thông qua mối liên kết giữa Việt Nam và Monozukuri Nhật Bản” (Vietnamese Supporting Industries From Master Plan to Action Plan through Vietnam-Japan Monozukuri Partnership) của Kenichi Ohno (VDF) (2008) tác giả đã nêu rõ đƣờng hƣớng và kế hoạch thực hiện việc phát triển CNPT nói chung tại Việt Nam. Tác giả nêu ra đề xuất cho một chính sách hợp lý cũng nhƣ xây dựng một nền CNPT năng động sáng tạo thông qua việc tăng cƣờng các mối quan hệ trong chính các doanh nghiệp thực 6 hiện chức năng cung cấp các sản phẩm phụ trợ trên thị trƣờng. Điều đó sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cũng nhƣ chất lƣợng của các sản phẩm mà các doanh nghiệp này cung cấp. Trong hội thảo phát triển CNPT của diễn đàn phát triển CNPT APEC tại Hà Nội tháng 8/2012 (APEC Supporting Industries Workshop) diễn giả Park Kim Sung trong “Kinh nghiệm phát triển công nghiệp của Hàn Quốc: từ số 0 đến sự thịnh vượng” (Experiences of Korea’s Industrial Growth: From nothing to Prosperity) đã phân tích rất rõ cách thức chính phủ và ngƣời dân Hàn Quốc vƣợt qua các khó khăn trở ngại ban đầu trong công cuộc đƣa ngành công nghiệp của Hàn Quốc phát triển vƣợt bậc nhƣ hiện nay, trong đó đánh giá rất cao vai trò của việc phát triển các ngành CNPT trong lĩnh vực Điện tử tại Hàn Quốc theo hƣớng chuyên môn hóa và mang tính đồng bộ rất cao.
Goodwill consultant JSC và Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) trong “Khảo sát dựa trên so sánh về bối cảnh, chính sách và kết quả đạt được cho sự phát triển các ngành CNPT tại châu Á” (Survey on comparison of backgrounds, policy and measures on outcome for development of supporting industries in Asian) Nhà xuất bản Giao thông vận tải (2012) đã đi sâu vào phân tích Ma-lay-xi-a và Thái Lan là hai trong số các nƣớc Asean có rất nhiều chƣơng trình dành cho CNPT từ năm 1980. Thông qua việc phân tích các vấn đề nhƣ bối cảnh, tổ chức chính sách, ảnh hƣởng chính sách kết quả đạt đƣợc…các tác giả đã đƣa ra những so sánh với Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu thực trạng CNPT tại Việt Nam, những thành tựu và bất cập về khung chính sách. Từ đó các tác giả đƣa ra bảy phát hiện chính từ kết quả so sánh ví dụ khủng hoảng-chất xúc tác cho chính sách; tác động qua lại giữa lợi ích quốc gia và lợi ích nƣớc ngoài thời kì toàn cầu hóa; xúc tiến mở và xúc tiến bắt buộc ….Từ những phân tích đó, các tác giả chỉ ra các nét tƣơng đồng và sự khác biệt về chính sách của hai quốc gia này, song dù bằng cách nào mỗi quốc gia đều thiết lập cho mình một phƣơng thức hoạch định chính sách công nghiệp tiên tiến mà Việt Nam có thể đúc rút và học hỏi đƣợc rất nhiều điều. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Tính đến nay, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về CNPT trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ Ô tô, Cơ khí và cả lĩnh vực Điện tử, cụ thể nhƣ: Báo cáo nghiên cứu điều tra “Xây dựng và đẩy mạnh CNPT ở Việt Nam” (2004) do JETRO thực hiện đƣợc coi là tài liệu đầu tiên đánh giá về CNPT ở Việt Nam.
Trong báo cáo đó, tác giả khẳng định CNPT ở Việt Nam đã đƣợc hình thành mặc dù tại thời điểm này khái niệm CNPT ở Việt Nam vẫn còn khá mơ hồ, nhận thức của các cơ quan chính phủ và các doanh nghiệp còn chƣa cao. Năm 2004, trên tạp chí Kinh tế và Phát triển, Nguyễn Kế Tuấn với “Phát triển CNPT trong chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam” đã đề cập tổng quát về khái niệm, vai trò cũng nhƣ các nhân tố tác động đến phát triển CNPT, thông qua đó tác giả đề xuất một số chính sách chủ yếu về phát triển CNPT đặc biệt là cho Việt Nam. Năm 2007, chính phủ đã phê duyệt “Quy cách phát triển CNPT Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” do bộ Công nghiệp (cũ) soạn thảo. Trong quy hoạch này lần đầu tiên khái niệm CNPT đƣợc chính thức hóa ở Việt Nam.
Trong quy hoạch này, vai trò của CNPT trong lĩnh vực Điện tử đƣợc nhấn mạnh, cùng với đó là một số các đề xuất, giải pháp nhằm phát triển ngành CNPT quan trọng này của quốc gia. CNPT trong lĩnh vực Điện tử đƣợc ƣu tiên là một trong top 5 ngành CNPT cần đƣợc sự đầu tƣ quan tâm thích đáng của Nhà nƣớc. Liên quan đến CNĐT Việt Nam, năm 2005, trong cuốn sách “Cải thiện hoạch định chính sách công nghiệp ở Việt Nam”, Mitarai với chƣơng “Các vấn đề của ngành CNHT ở các nước Asean và khuyến nghị với Việt Nam” đã phân tích bài học về tận dụng lợi thế cạnh tranh quốc gia ở các nƣớc ASEAN khi phát triển CNĐT. Nguyễn Hoàng Ánh (chủ nhiệm) (2008) trong “Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử Việt Nam” (Đề tài khoa học cấp bộ, Đại học Ngoại Thƣơng) đã chỉ rõ trong chiến lƣợc phát triển các ngành công nghiệp, Việt Nam nên lựa chọn, định hƣớng phát triển ngành CNĐT trở thành ngành mũi nhọn, mang tính đột phá chiến lƣợc vì có nhiều ƣu thế và lợi thế cạnh 8 tranh.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, trong chuỗi giá trị toàn cầu Việt Nam nên tập trung vào công đoạn sản xuất, là khâu có thể tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của các tập đoàn điện tử quốc tế chứ chƣa nên tham gia vào khâu thiết kế, phân phối của chuỗi giá trị. Trong quá trình đó, ở công đoạn sản xuất, Việt Nam cần đầu tƣ nhiều hơn vào hệ thống các sản phẩm hỗ trợ phục vụ cho mục đích phát triển CNĐT. Trƣơng Thị Chí Bình, (2010), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam”; Luận án Tiến sĩ kinh tế trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đã phân tích các luận cứ lý thuyết và thực tiễn về cách thức phát triển CNPT ngành điện tử gia dụng.
Làm rõ bản chất, thành phần, các nhân tố ảnh hƣởng đến CNPT, từ đó khẳng định quan điểm đúng đắn về phát triển CNPT dựa trên mạng lƣới của “lý thuyết trò chơi”, với vai trò tích cực của các TĐĐQG và các nhà cung ứng quốc tế.