Chương 1: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương đầu thời kỳ tái lập tỉnh (1997 – 2001) Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đẩy mạnh phát triển công nghiệp địa phương từ năm 2001 đến năm 2010 Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƢƠNG ĐẦU THỜI KỲ TÁI LẬP TỈNH (1997 – 2001) 1. Thái Nguyên: Vùng đất, con ngƣời và tình hình phát triển công nghiệp trƣớc năm 1997 1. Vị trí địa lý, hành chính và những nguồn lực phát triển công nghiệp Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Đông Bắc với diện tích tự nhiên 3541,1 km². Thái Nguyên là một trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi Đông Bắc với vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Địa phận tỉnh Thái Nguyên tiếp giáp với các tỉnh: Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn; phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang; phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội. Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên; Thị xã Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương với tổng số gồm 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du. Đây là một điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế xã hội của tỉnh nhất là các ngành khai thác, chế biến nông, lâm sản và khoáng sản, tiền đề quan trọng cho sự phát triển của nền công nghiệp nói chung và công nghiệp địa phương nói riêng. Thái Nguyên nằm trong giới hạn 20020’ – 22025’ vĩ độ Bắc và 10025’ – 106016’ kinh độ Đông.
Thái Nguyên tiếp giáp với nhiều tỉnh, thành có nền kinh tế phát triển, nằm gần nhiều cảng sông, cảng biển, sân bay và cửa khẩu biên giới (cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 80km và cảng Hải Phòng 200 km). Thái Nguyên kết 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nối với các tỉnh thành bằng hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt lấy thành phố Thái Nguyên làm đầu mối. Với vị trí trên, Thái Nguyên dễ dàng giao lưu trao đổi hàng hóa với các tỉnh bằng nhiều con đường. Đây là một lợi thế lớn cho nền kinh tế toàn tỉnh.
Tiếp giáp thủ đô Hà Nội, cách thủ đô Hà Nội 80km là một lợi thế lớn cho nền kinh tế của tỉnh. Hà Nội không chỉ là một thị trường lớn đầy tiềm năng trong việc tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, thủy sản của Thái Nguyên mà còn là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử lớn của cả nước, nơi chuyển giao công nghệ cho Thái Nguyên nói chung cũng như các tỉnh miền núi Đông Bắc nói riêng thông qua tỉnh Thái Nguyên. Cùng với những thuận lợi về vị trí địa lý, Thái Nguyên có nhiều nguồn lực quan trọng để phát triển công nghiệp: Thái Nguyên được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai. Tỉnh Thái Nguyên có địa hình đặc trưng là đồi núi xen kẽ ruộng thấp, chủ yếu là núi đá vôi và đồi thấp dạng bát úp với diện tích tự nhiên 3541,1 km2 chiếm 1,1% diện tích tự nhiên cả nước.
Thái Nguyên có nhiều khả năng để phát triển nông, lâm, công nghiệp, du lịch và các loại hình dịch vụ khác. Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 102.190 ha, diện tích rừng trồng khoảng 44. Đây là một lợi thế to lớn cho việc phát triển rừng nguyên liệu phục vụ chế biến gỗ nhân tạo, chế biến làm nguyên liệu giấy. Thái Nguyên là vùng đất thích hợp để phát triển cây chè.
Chè Thái Nguyên, đặc biệt là chè Tân Cương là đặc sản từ lâu nổi tiếng trong và ngoài nước. Toàn tỉnh hiện có 15.000 ha chè (đứng thứ 2 cả nước sau Lâm Đồng), Thái Nguyên có hai con sông chính chảy qua địa phận là sông Cầu, sông Công và chịu ảnh hưởng rất lớn về chế độ thuỷ văn của hai con sông này. Nếu được khai thác tốt, đây sẽ là một lợi thế lớn không chỉ cho vấn đề thủy lợi mà còn là một đường vận chuyển hàng hóa thuận tiện cho tỉnh góp phần phát triển nền kinh tế thương mại, dịch vụ và công nghiệp. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thái Nguyên là tỉnh có tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, đây là một lợi thế lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng.
Thái Nguyên được đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ 2 trong cả nước bao gồm than mỡ, than đá được phân bố tập trung ở 2 huyện Đại từ và Phú Lương. Khoáng sản kim loại có nhiều ở Thái Nguyên. Kim loại màu có thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken, thuỷ ngân. Khoáng sản phi kim loại: Có pyrít, barít, phốtphorít.
Thái Nguyên có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng trong đó đáng chú ý là đất sét xi măng ở 2 mỏ Cúc Đường và Khe Mo, đá Cacbônat bao gồm đá vôi xây dựng, đá vôi xi măng, Đôlômit tìm thấy ở nhiều nơi, đá vôi xây dựng có ở mỏ Núi Voi, La Hiên, La Giang, đất sét cao lanh tại xã Phú Lạc, Đại Từ có chất lượng tốt. Đó là vùng nguyên liệu dồi dào cho sự phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng. Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại, trong đó có nhiều loại có ý nghĩa lớn trong cả nước. Tiềm năng khoáng sản tạo cho Thái Nguyên một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng….
để trở thành một trong các trung tâm luyện kim lớn của cả nước. Nguồn lực kinh tế xã hội cũng là một thế mạnh phát triển công nghiệp địa phương Thái Nguyên. Trước tiên là thế mạnh của nguồn nhân lực. Dân số Thái Nguyên khoảng 1,2 triệu người, trong đó có 8 dân tộc chủ yếu sinh sống đó là Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sán chay, Hoa và Dao.
Ngoài ra, Thái Nguyên được cả nước biết đến là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với 7 Trường Đại học, 2 khoa đại học thuộc Đại học Thái Nguyên,10 trường Cao đẳng, hơn 50 trường dạy nghề và trường chuyên nghiệp với quy mô đào tạo khoảng 16.000 người mỗi năm. Cũng theo số liệu năm 2009, lực lượng lao động của tỉnh có trên 681. Tỷ lệ lao động trẻ (dưới 35 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuổi) chiếm hơn 58% tổng số lao động. Số lao động có trình độ học vấn từ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên chiếm 28% vào cuối năm 2009.
Cơ cấu lao động của tỉnh cụ thể như sau: + Công nhân kỹ thuật có bằng: 24.561 người + Trình độ sơ cấp: 6.053 người + Trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học: 17. Với vai trò là một trung tâm giáo dục đào tạo lớn thứ 3 trong cả nước, nguồn nhân lực Thái Nguyên được xem là một lợi thế lớn cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung với một nguồn lao động có chất lượng cao. Tuy nhiên, nhìn chung hiện nay, trên địa bàn tỉnh, nguồn lao động vẫn tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Nguồn lao động là những doanh nhân giỏi, cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao còn ít chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh.
Tìm ra giải pháp nhằm nhanh chóng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ đó kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động là một bài toán lớn mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái nguyên đang cố gắng tìm lời giải. Thái Nguyên là tỉnh có một số cơ sở công nghiệp lớn và vừa của Trung ương với nhiều lĩnh vực, ngành nghề được xây dựng từ thập niên 60, 70. Điều này tạo cho Thái Nguyên một lợi thế lớn để phát triển công nghiệp lớn so với những tỉnh khác trong cả nước. Khu công nghiệp luyện kim (Lưu Xá) có tổng diện tích 520 ha có 2 doanh nghiệp lớn là công ty gang thép Thái Nguyên và công ty luyện kim màu được nhà nước đầu tư từ thập niên 60, 70.
Khu công nghiệp cơ khí, chế tạo máy Sông Công: tổng diện tích 220 ha, có 5 nhà máy chế tạo máy phụ tùng, máy động lực, dụng cụ y tế. Những khu công nghiệp này đã và đang được đầu tư mở rộng và nâng cao công nghệ, vừa là đầu tàu vừa là lực đẩy cho công nghiệp địa phương của Thái Nguyên phát triển. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giao thông được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu cho sự phát triển kinh tế. Nền kinh tế một quốc gia hay một tỉnh muốn phát triển thì giao thông luôn phải đi trước một bước.
Thái Nguyên có hệ thống đường giao thông tương đối thuận tiện cho sự phát triển và giao lưu kinh tế nói chung. Thái Nguyên có các hệ thống đường quốc lộ 3, quốc lộ 37, 18, 259. Tổng chiều dài đường bộ của Tỉnh là 2.753 km trong đó: Quốc lộ: 183 km, tỉnh lộ: 105,5km, huyện lộ: 659 km. Hệ thống tỉnh lộ và quốc lộ đều được dải nhựa và phân bố khá hợp lý.
Hệ thống đường sắt từ Thái Nguyên đi các tỉnh khá thuận tiện, đảm bảo phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa với các tỉnh trong cả nước. Các tuyến đường sắt quan trọng như tuyến đường sắt Hà Nội - Quán Triều chạy qua tỉnh nối Thái Nguyên với Hà Nội; tuyến đường sắt Lưu Xá - Khúc Rồng nối với tuyến đường sắt Hà Nội -Quán Triều, tuyến đường sắt này cũng nối tỉnh Thái Nguyên với tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Quảng Ninh; tuyến đường sắt Quán Triều - Núi Hồng rất thuận tiện cho việc vận chuyển khoáng sản. Thái Nguyên có 2 tuyến đường sông chính là: Đa Phúc - Hải Phòng dài 161 km; Đa Phúc - Hòn Gai dài 211 km. Nhìn chung, hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt được phân bố tương đối hợp lý thuận tiện cho việc lưu thông hàng hóa, hành khách trong và ngoài tỉnh.
Hệ thống điện được xem là một nhân tố hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung nhất là công nghiệp địa phương.