CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN 1. Khái niệm công nghiệp chế biến, công nghiệp chế biến nông, lâm sản Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội cho thấy sự hình thành và phát triển công nghiệp chế biến gắn với phân công lao động xã hội dưới tác động của sự phát triển lực lượng sản xuất. Phân công lao động xã hội đã phân chia nền sản xuất xã hội thành nhiều ngành nghề khác nhau, thúc đẩy sản xuất hàng hóa, phát triển.
Sản xuất hàng hóa càng phát triển, phân công lao động xã hội càng sâu sắc, nó diễn ra ngay trong nội bộ từng ngành sản xuất, hình thành những ngành kinh tế độc lập. Trong tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga " Lênin đã chỉ rõ "[2,99]. Sự phân công lao động xã hội là cơ sở của kinh tế hàng hóa. Công nghiệp chế biến tách khỏi công nghiệp khai thác và mỗi ngành công nghiệp đó là chia thành nhiều loại nhỏ, chúng sản xuất ra dưới hình thức hàng hóa, những sản phẩm đặc biệt và đem trao đổi với tất cả các ngành sản xuất khác" [18, 87].
Mác chia sản phẩm do xã hội sản xuất thành hai loại: tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nền sản xuất xã hội được chia thành hai khu vực: Sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất tư liệu tiêu dùng. Phát triển quan điểm của C.Mác, Lênin khi phân tích khu vực của nền sản xuất xã hội, đã phân chia các ngành của nền kinh tế thành hai khu vực. Khu vực I: - Các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệu sản xuất.
- Các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệu tiêu dùng. Khu vực II: - Các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng. Với cách chia như trên,công nghiệp chế biến nông, lâm sản thuộc nhóm thứ ba Trong quá trình chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta, để đáp 5 ứng yêu cầu của công tác quản lý phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, việc phân loại các ngành trong nền kinh tế quốc dân trong đó có ngành công nghiệp, đã được tiếp cận theo quan điểm mới. Theo quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế quốc dân Việt Nam [9,99] và quyết định số: 337/QĐ-BKH ngày 10/07/2007 của Bộ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành quy định nội dung hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam bao gồm cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV và cấp V.
Cấp I gồm: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; khai khoáng; công nghiệp chế biến chế tạo; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; cung cấp nước, họat động quản lý và xử lý rác thải, nước thải; xây dựng; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; vận tải kho bãi; dịch vụ lưu trú và ăn uống.Với cách phân loại này, công nghiệp chế biến là một ngành kinh tế độc lập, bao gồm nhiều lĩnh vực sản xuất như công nghiệp thực phẩm, công nghiệp dệt và may mặc, công nghiệp đồ gỗ, công nghiệp giấy và in, công nghiệp hóa dầu, công nghiệp luyện kim, chế biến các khoáng sản không phải kim loại, công nghiệp chế tạo máy và công cụ kim loại [13,86]. Qua đó, ta có thể hiểu rằng công nghiệp chế biến là một ngành kinh tế độc lập, bao gồm nhiều lĩnh vực sản xuất, có đặc trưng làm thay đổi về chất của các đối tượng lao động là nguyên liệu ( sản phẩm của khai thác, trồng trọt, chăn nuôi) thành các sản phẩm trung gian và tiếp tục biến thành sản phảm cuối cùng, từ đó làm tăng giá trị của nguyên liệu nguyên thủy và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Từ quan niệm nói trên về công nghiệp chế biến, công nghiệp chế biến nông, lâm sản là một bộ phận hợp thành của công nghiệp chế biến thực hiện các hoạt động bảo quản, giữ gìn, cải biến và nâng cao giá trị sử dụng của nguyên liệu từ nông, lâm, thông qua quá trình cơ nhiệt hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Như vậy công nghiệp chế biến nông, lâm sản là một bộ phận của ngành công nghiệp chế biến, ngành công nghiệp dùng nguyên liệu nông nghiệp (nông sản, lâm sản), thực hiện các hoạt động bảo quản, giữ gìn, cải biến và nâng giá trị sử dụng của nguyên liệu nông, lâm nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Nội dung, đặc điểm phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản 1. Nội dung của phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản Công nghiệp chế biến nông, lâm sản bao gồm một số ngành sản xuất chính như: Chế biến sản phẩm trồng trọt: Xay xát gạo, chế biến tinh bột sắn, nấu rượu, chế biến cafê, chế biến than từ võ trấu, chế biến tinh bột nghệ, ép dầu lạc, làm bún.Chế biến sản phẩm lâm sản: sản xuất các sản phẩm từ gỗ rừng trồng, làm than, chế biến thủ công mỹ nghệ. Phát triển về quy mô của công nghiệp chế biến nông, lâm sản Theo quan điểm của nhà kinh tế học hiện đại về các mô hình kinh tế phát triển công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến nông, lâm sản cần phải tổ chức sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu. - Chiều rộng: Tổ chức sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm sản theo chiều rộng bao gồm nguồn vốn lớn, sản lượng đảm bảo tiêu chuẩn quy định.
- Chiều sâu: Được hiểu một cách khái quát, ngoài tổ chức sản xuất theo chiều rộng, đòi hỏi phải theo chiều sâu. Nghĩa là chú ý về chất lượng mẫu mã, thành phần đáp ứng nhu cầu của con người. Tăng năng lực sản xuất của công nghiệp chế biến nông, lâm sản Khả năng sản xuất của công nghiệp chế biến nông, lâm sản thể hiện qua sự chế biến hết nguồn nguyên liệu hiện có. Đồng thời tận dụng phế phẩm, tiết kiệm.
để đa dạng hóa sản phẩm. Ví dụ như sản xuất chế biến dầu lạc, có thể tận dụng bã lạc để làm thức ăn cho gia súc, vỏ lạc để làm nhiên liệu đốt hoặc làm phân bón hữu cơ. Khả năng của trang thiết bị, công suất của máy phải đáp ứng để chế biến nguồn nguyên liệu hiện có. Chẳng hạn như nguồn nguyên liệu lúa, lạc, sắn nhiều trong khi máy móc không đủ hoặc không đảm bảo về mặt kỹ thuật.
Năng lực sản xuất còn phụ thuộc vào trình độ kỹ năng lao động như đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật lành nghề. Nâng cao trình độ công nghiệp chế biến Một sản phẩm tốt hay kém chất lượng phụ thuộc vào trình độ công nghệ, kỹ thuật. Máy móc, trang thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại sẽ chế tạo sản phẩm chất 7 lượng cao, mẫu mã đa dạng phong phú đáp ứng nhu cầu thị hiếu con người. Cũng từ đó, một công ty, doanh nghiệp, xí nghiệp xây dựng thương hiệu sản phẩm của mình đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Điều đó thể hiện nếu trang thiết bị hiện đại, công nghệ cao sản xuất ra sản phẩm đảm bảo về chất lượng và số lượng, giá trị cá biệt thấp, song đem trao đổi trên thị trường bán đúng với giá trị thị trường thì khoản chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị cá biệt chính là lợi nhuận; đó là mục đích của nhà doanh nghiệp, công ty, xí nghiệp, cũng chính là lợi thế cạnh tranh, cùng với sự lãnh đạo điều hành tốt của những giám đốc năng động. Thay đổi tỷ trọng sản phẩm Công nghiệp chế biến nông, lâm sản sẽ làm tăng giá trị trong đơn vị sản phẩm. Hàng hóa được tạo ra với chất lượng cao, thương hiệu tốt sẽ thắng đối thủ cạnh tranh trong cùng một lĩnh vực. Điều đó làm cho hàng hóa được lưu thông không chỉ ở trong nước mà còn ngoài nước.
Ở tầm vĩ mô, hàng hóa được xuất khẩu ra các khu vực và thế giới. Với sự phân tích trên, giá trị sản phẩm hàng hóa tăng dẫn đến tỷ trọng trong sản phẩm qua chế biến cũng thay đổi. Chẳng hạn, một tấn cà phê chưa qua chế biến, xuất khẩu thô thì giá trị của nó thấp rất nhiều so với một tấn cà phê đã được tinh chế. Đặc điểm của công nghiệp chế biến So với công nghiệp khai thác và các ngành công nghiệp chế biến khác, công nghiệp chế biến nông, lâm sản có một số đặc điểm riêng chi phối đến việc xác định vai trò và quan điểm phát triển, quản lý ngành, đó là: Thứ nhất: Do nguồn nguyên liệu có đặc tính sinh vật nên công nghiệp chế biến nông, lâm sản thường được tiến hành qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1: Sơ chế bảo quản.
Giai đoạn này được tiến hành ngay sau khi thu hoạch, nằm ngoài xí nghiệp chế biến, chủ yếu sử dụng lao động thủ công với phương tiện bảo quản và vận chuyển chuyên dùng. Nó quyết định mức độ tổn thất sau thu hoạch và chất lượng nguyên liệu đưa đến xí nghiệp chế biến. Đây là giai đoạn quan trọng có ý nghĩa xác định thứ hạng sản phẩm ở giai đoạn sau. Nó bao gồm những công việc cụ thể như phơi sấy, lựa chọn, lưu kho.
8 Giai đoạn 2: chế biến công nghiệp. Giai đoạn này diễn ra trong các xí nghiệp công nghiệp chế biến, sử dụng lao động kỹ thuật cùng với máy móc, thiết bị công nghệ cần thiết để chế biến nguyên liệu động, thực vật ra sản phẩm. Ở giai đoạn này trình độ công nghệ, thiết bị, của công nhân có vai trò và ý nghĩa quyết định mức độ chất lượng sản phẩm chế biến và mức độ tăng giá trị của nông, lâm sản qua khâu chế biến. Thứ hai: Sản phẩm của công nghiệp chế biến nông, lâm sản gắn liền với nhu cầu của cuộc sống hàng ngày của con người, ngày càng được nhiều người sử dụng.
Do có nhiều yếu tố khác nhau (tâm lý tiêu dùng, tập quán tiêu dùng, thu nhập tăng, tiến bộ khoa học - công nghệ, môi trường. nên hiện đang có những xu hướng tiêu dùng tác động mạnh mẽ đến việc phát triển công nghiệp chế biến nông sản: Xu hướng tăng cường sử dụng các loại rau sạch; xu hướng tăng cường sử dụng các loại nông sản đã qua chế biến. Hai xu hướng này làm cho các yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm, về đảm bảo chất dinh dưỡng, đảm bảo thời hạn sử dụng. gày càng trở nên nghiêm ngặt hơn.