phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về phát triển công nghiệp bền vững. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển công nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 4 Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp bền vững ở tỉnh Thái Nguyên.
Chƣơng 1 CỞ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm và đặc trưng của sản xuất công nghiệp Công nghiệp theo nghĩa rộng của kinh tế học là hoạt động kinh tế có quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa [47]. Theo nghĩa này, những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt đƣợc một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp, ngành kinh tế nhƣ: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp nghiệp thời trang, công nghiệp báo chí, v.v… Theo nghĩa hẹp, công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm đƣợc "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo [47].
Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, đƣợc sự hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật. Ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, công nghiệp bao gồm: Công nghiệp khai khoáng; Công nghiệp chế biến, chế tạo; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nƣớc nóng; Cung cấp nƣớc, hoạt động quản lý và xử lý nƣớc thải, rác thải. Sản xuất công nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, sản xuất công nghiệp có khả năng thực hiện tập trung hoá, chuyên môn hóa và hợp tác hoá cao. Tập trung hoá sản xuất giúp cho công nghiệp có điều kiện phát huy hiệu quả kinh tế theo quy mô, nhờ đó giảm đƣợc chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm.
Chuyên môn hoá và việc mở rộng quan hệ hợp tác trong công nghiệp nhằm phát huy mạnh mẽ hơn hiệu quả của quá trình sản xuất, nhờ đó năng suất lao động ngày càng tăng. Trong xu thế toàn cầu hiện nay, nhờ khả năng chuyên môn hóa cao của công nghiệp mà mỗi quốc gia có thể lựa chọn một số loại sản phẩm hay một số công đoạn nhất định trong chuỗi sản xuất toàn cầu dựa vào lợi thế so sánh của mỗi nƣớc. Hai là, công nghiệp có mức tiêu thụ các nguồn lực đầu vào lớn. Tùy theo trình độ công nghệ, đặc điểm của mỗi ngành mà mức độ sử dụng các nguồn lực đầu vào của các ngành công nghiệp là rất khác nhau.
Nhƣng với đặc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 5 điểm là các ngành sản xuất có mức độ tập trung hóa cao nên hầu hết các ngành công nghiệp đều có nhu cầu tiêu thụ một lƣợng đầu vào rất lớn. Tuy nhiên, khi quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp cần tính đến mức độ dồi dào của các yếu tố nguồn lực ở mỗi vùng, miền. Ba là, công nghiệp có khả năng đổi mới công nghệ tương đối nhanh. Do khả năng đổi mới công nghệ khá nhanh của công nghiệp, nên phát triển bền vững công nghiệp cần tính đến các điều kiện về giao thông, liên lạc để đáp ứng yêu cầu lƣu thông hàng hóa.
Bên cạnh đó, vòng đời sản phẩm của công nghiệp ngắn và nhu cầu đối với công nghiệp rất đa dạng, do đó, mức độ cạnh tranh của công nghiệp rất mạnh mẽ, kể cả cạnh tranh trong nội bộ của mỗi ngành công nghiệp. Do vậy, đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp trở thành nhu cầu thiết yếu và thƣờng xuyên. Nếu đáp ứng đƣợc nhu cầu này, các ngành công nghiệp không chỉ có khả năng cạnh tranh ngày càng cao mà còn có khả năng giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với môi trƣờng. Bốn là, công nghiệp có khả năng phân bố trên mọi vùng lãnh thổ.
Phát triển các ngành công nghiệp ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nên địa bàn phân bố công nghiệp có thể thực hiện trên mọi vùng, không gian, lãnh thổ. Đây là điều kiện thuận lợi để quy hoạch phát công nghiệp, đồng thời, có thể giải bài toán phát triển công nghiệp gắn với yêu cầu về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Việc quy hoạch không gian, lãnh thổ trong sản xuất công nghiệp nếu chỉ tập trung vào các trung tâm đô thị, tất yếu sẽ không tận dụng đƣợc không gian một cách hiệu quả nhằm giải quyết nhu cầu đa dạng và lâu dài cho phát triển công nghiệp, trong khi lại làm gia tăng khoảng cách KT-XH trong phát triển vùng. Mặt khác, sai lệch trong phân bố công nghiệp theo vùng có ảnh hƣởng rất lớn đến vấn đề ô nhiễm môi trƣờng.
Những nơi tập trung công nghiệp và dân cƣ quá nhiều sẽ tạo ra áp lực rất lớn trong vấn đề giải quyết môi trƣờng và hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh. Năm là, sản xuất công nghiệp đi liền với phát thải lớn. Kết quả của sản xuất công nghiệp luôn mang tính hai mặt: Một mặt, đó là tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng; Mặt khác, nó tạo ra phát thải rất lớn, có tác động bất lợi đối với PTBV. Quy mô và tính chất nguy hại của các loại rác thải phụ thuộc vào: - Trình độ tập trung hoá của sản xuất công nghiệp.
Khi công nghiệp có quy mô sản xuất càng lớn thì quy mô của phát thải cũng càng lớn. - Đặc điểm của các ngành công nghiệp chuyên môn hóa trong việc khai thác, sử dụng và chế biến các loại tài nguyên thiên nhiên. Những ngành sản xuất công nghiệp thiên về sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhất là những ngành công Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 nghiệp sản xuất các sản phẩm thô xuất khẩu sẽ có quy mô phát thải lớn hơn các ngành công nghiệp có độ chế biến sâu hơn. Tính chất gây hại cho môi trƣờng cũng khác nhau, điều này tùy thuộc vào các loại tài nguyên thiên nhiên mà ngành công nghiệp đó sử dụng.
- Trình độ công nghệ trong sản xuất công nghiệp có ảnh hƣởng rất lớn đến việc tiêu thụ nguyên, nhiên vật liệu năng lƣợng, cũng nhƣ khả năng phát thải của sản xuất công nghiệp. Nếu khai thác và sử dụng khối lƣợng tài nguyên thiên nhiên lớn trong khi công nghệ khai thác và chế biến lạc hậu sẽ dẫn đến hậu quả kép: vừa tiêu hao tài nguyên thiên nhiên trong một đơn vị sản phẩm lớn nên làm tăng chi phí sản xuất, vừa gây lãng phí tài nguyên thiên nhiên và phát thải lớn. - Quá trình tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp cũng tạo ra một lƣợng chất thải lớn về bao bì, về hoá chất, nhiên liệu và các loại phế liệu khi các sản phẩm công nghiệp (máy móc, thiết bị và các tiện nghi, đồ dùng gia đình.) bị loại bỏ khi đã hết thời hạn sử dụng. - Năng lực xử lý các chất thải và kiểm soát môi trƣờng của các cơ sở sản xuất công nghiệp.
Nếu các cơ sở sản xuất công nghiệp không quan tâm đến xử lý các chất thải công nghiệp do chính mình là tác nhân gây ra, sẽ làm cho quy mô và tính nguy hại của rác thải ngày một lớn đối với môi trƣờng, nhất là khi nó đã vƣợt qua giới hạn cho phép. Sáu là, sản xuất công nghiệp là nơi nảy sinh nhiều vấn đề trực tiếp liên quan đến kinh tế - xã hội - môi truờng; đến lợi ích kinh tế của nhiều bên: Chủ doanh nghiệp - Người lao động - Dân địa phương sống gần nơi doanh nghiệp đóng - Nhà nuớc. Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp vừa là đơn vị kinh tế, vừa là đơn vị xã hội tập trung một lực lƣợng lao động tƣơng đối lớn (tuỳ theo quy mô doanh nghiệp), đồng thời, còn là nơi sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tạo ra phát thải. Mục tiêu tối đa hoá lợi ích của chủ doanh nghiệp có thể gây ra cách nhìn nhận vấn đề và cách giải quyết phiến diện không đúng với trách nhiệm pháp lý của mình đối với ngƣời lao động (những vấn đề liên quan đến tiền lƣơng và bảo hiểm xã hội, chế độ làm việc, điều kiện vệ sinh, sức khoẻ và an toàn lao động, chế độ nhà ở và các lợi ích chính đáng khác.); thiếu trách nhiệm xã hội trong vấn đề bảo vệ môi trƣờng ảnh hƣởng đến thu nhập và điều kiện sống của nhân dân địa phƣơng, đến giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hoá, lịch sử của địa phƣơng; thiếu trách nhiệm trong việc thực thi nghĩa vụ với Nhà nƣớc.
Tất cả những vấn đề nêu trên đều gây ra sự tổn hại nghiêm trọng đến PTBV. Quan niệm chung về phát triển bền vững Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 7 * Phát triển “Phát triển” đƣợc định nghĩa khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hƣớng tiến bộ hơn, mạnh hơn.” (The gradual grow of sth. so that it becomes more advanced, stronger. Theo từ điển Tiếng Việt, “phát triển” đƣợc hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hƣớng tăng lên, ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, phát triển xã hội…[61].
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì “phát triển” là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tƣợng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong, … nguồn gốc của sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” [31]. Phát triển kinh tế là phạm trù kinh tế rộng lớn, trong khuôn khổ một định nghĩa hay một khái niệm không thể bao hàm đƣợc hết nội dung rộng lớn của nó.
Song nhất thiết khái niệm đó phải phản ánh đƣợc các nội dung cơ bản sau: - Sự tăng lên về quy mô sản xuất, làm tăng thêm giá trị sản lƣợng của vật chất, dịch vụ và sự biến đổi về cơ cấu kinh tế, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, có khả năng khai thác các nguồn lực trong và ngoài nƣớc. - Sự tác động của tăng trƣởng kinh tế làm thay đổi cơ cấu xã hội, cải thiện đời sống dân cƣ.