CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG HÀNG MAY MẶC GIA CÔNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNG MAY MẶC GIA CÔNG VIỆT NAM 1. Khái niệm về hoạt động gia công hàng may mặc xuất khẩu Gia công hàng may mặc xuất khẩu là phƣơng thức sản xuất hàng xuất khẩu. Trong đó, ngƣời đặt hàng gia công ở nƣớc ngoài cung cấp:máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo và định mức cho trƣớc.
Ngƣời nhận gia công trong nƣớc tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách. Toàn bộ sản phẩm làm ra ngƣời nhận gia công sẽ giao lại cho ngƣời đặt gia công để nhận đƣợc tiền công.1: Quan hệ giữa hai bên ( đặt và nhận) trong hoạt động gia công Gia công hàng hóa với thƣơng nhân nƣớc ngoài là việc thƣơng nhân Việt Nam, doanh nghiệp đƣợc thành lập theo hợp đồng đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam nhận gia công hàng hóa tại Việt Nam cho thƣơng nhân nƣớc ngoài hoặc đặt gia công tại nƣớc ngoài. Nhƣ vậy, hoạt động gia công xuất khẩu là quan hệ hợp tác giữa hai hay nhiều bên đê sản xuất ra hàng hóa phục vụ cho xuất khẩu. Trong mối quan hệ này, bên nhận gia công có lợi thế về nhân lực nhận tổ chức cho quá trình sản xuất sản phẩm 6 theo hợp đồng sau đó sẽ tra sản phẩm hoàn chỉnh cho bên đặt gia công để lấy tiền công.
Phân loại hoạt động gia công hàng may mặc xuất khẩu Hoạt động gia công hàng may mặc xuất khẩu là một hoạt động mang lại nguồn ngoại tệ, góp phần phát triển đất nƣớc nói chung và nền kinh tế nói riêng. Căn cứ vào các tiêu chí, có thể phân loại hoạt động gia công hàng may mặc xuất khẩu nhƣ sau: Căn cứ vào quyền sử hữu nguyên liệu trong quá trình sản xuất sản phẩm, hoạt động gia công có các hình thức sau: Hình thức nhận nguyên phụ liệu giao thành phẩm ( gia công hoàn chỉnh một sản phẩm): Bên đặt gia công giao nguyên vật liệu và phụ kiện cho bên nhận gia công, sau một thời gian ký kết sẽ thu hồi thành phẩm hàng may mặc theo nhƣ quy cách và tài liệu đã phê duyệt và trả phí gia công cho bên nhận gia công theo nhƣ thoả thuận. Hình thức này trƣớc đây đƣợc sử dụng đối với các nƣớc kém phát triển không đủ máy móc thiết bị kỹ thuật mà phải nhờ vốn của bên đặt gia công có khi cả về kỹ thuật. Theo phƣơng thức này, bên nhận gia công có lợi thế là không phải bỏ vốn ra mua nguyên vật liệu, không những thế, nếu thực hiện sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên liệu so với định mức thì bên nhận gia công còn có thê hƣởng số nguyên vật liệu còn dƣ ra đó.
Tuy nhiên, gia công theo hình thức này hiệu quả kinh tế không cao vì bên nhận gia công chỉ đƣợc hƣởng tiền gia công. Bên cạnh đó, bên nhận gia công còn phụ thuộc vào tiến độ giao nguyên vật phụ liệu của bên đặt gia công. Bên đặt dc thƣờng gặp rủi ro trong phƣơng thức gia công này là nếu bên nhận gia công làm sai thì sẽ mất số nguyên phụ liệu đó mà không thu đƣợc hàng hóa. Hình thức mua đứt bán đoạn dựa trên hợp đồng mua bán với nước ngoài Bên đặt gia công bán đứt nguyên phụ liệu cho bên nhận gia công, bên nhận gia công sẽ mở L/C để mua nguyên phụ liệu và nhƣ vậy quyền sở hữu nguyên liệu sẽ đƣợc chuyển sang bên nhận gia công.
Sau một thời gian sản xuất, bên đặt gia công sẽ mua lại toàn bộ sản phẩm theo nhƣ định mức đã duyệt với số tiền phải trả là toàn bộ chi phí mua nguyên vật liệu và giá gia công đƣợc quy định trong hợp đồng. Phƣơng thức này ngày càng đƣợc áp dụng nhiều với các nƣớc đang phát triển vì nó 7 vừa tiết kiệm cho bên đặt gia công vừa thuận lợi cho bên nhận gia công. Ƣu điểm của phƣơng thức gia công này là bên đặt gia công không phải chịu chi phí ứng trƣớc về nguyên phụ liệu, nếu bên nhận gia công làm sai thì không mất nguyên phụ liệu, do vật giảm bớt rủi ro trong quá trình đặt hàng gia công. Bên nhận g có thể chủ động trong việc mua nguyên phụ liệu, không phụ thuộc vào bên đặt gia công, đặc biêt, nếu tự mua nguyên vật liệu hoàn toàn thì sẽ giảm đƣợc chi phí sản xuất, vì vậy nâng cao hiệu quả kinh tế.
Mặt khác, bên nhận gia công còn có thể mở rộng thị trƣờng nguyên phụ liệu do bên đặt gia công chỉ định. Tuy nhiên, phƣơng thức này có những bất lợi với bên nhận gia công là nếu không mua nguyên phụ liệu nhà cung cấp do bên đặt gia công chỉ định thì sai hợp đồng, nhƣng nếu mua lại thƣờng hay bị ép giá. Căn cứ theo mức độ cung cấp nguyên phụ liệu: Bên đặt gia công cung cấp 100% nguyên phụ liệu và bên nhận gia công sản xuất theo sản phẩm theo định mức đã thỏa thuận trong hợp đồng, sau đó sẽ trả lại thành phẩm cho bên đặt gia công hoặc sẽ giao cho bên thứ ba theo chỉ đinh. Bên nhận gia công chỉ nhận nguyên liệu chính theo định mức còn nguyên liệu phụ thì tự khai thác theo đúng yêu cầu của khách hàng.
Bên nhận gia công không nhận bất cứ nguyên liệu phụ nào của khách hàng mà chỉ nhận ngoại tệ để mua nguyên liệu theo đúng yêu cầu. Căn cứ vào nghĩa vụ của bên nhận gia công: Sơ đồ 1.2: Các hình thức xuất khẩu CMT (Cut - Make - Trim) 8 Đây là phƣơng thức xuất khẩu đơn giản nhất của ngành dệt may và mang lại giá trị gia tăng thấp nhất. Khi hợp tác theo phƣơng thức này, ngƣời mua cung cấp cho doanh nghiệp gia công toàn bộ đầu vào để sản xuất sản phẩm bao gồm nguyên liệu, vận chuyển, mẫu thiết kế và các yêu cầu cụ thể; các nhà sản xuất chỉ thực hiện việc cắt, may và hoàn thiện sản phẩm. Doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu theo CMT chỉ cần có khả năng sản xuất và hiểu biết cơ bản về thiết kế để thực hiện mẫu sản phẩm.
OEM/FOB (Original Equipment Manufacturing) FOB là phƣơng thức xuất khẩu ở bậc cao hơn so với CMT; đây là hình thức sản xuất theo kiểu “mua nguyên liệu, bán thành phẩm”. Theo phƣơng thức FOB, các doanh nghiệp chủ động tham gia vào quá trình sản xuất, từ việc mua nguyên liệu đến cho ra sản phẩm cuối cùng. Khác với CMT, các nhà xuất khẩu theo FOB sẽ chủ động mua nguyên liệu đầu vào cần thiết thay vì đƣợc cung cấp trực tiếp từ các ngƣời mua của họ. Các hoạt động theo phƣơng thức FOB thay đổi đáng kể dựa theo các hình thức quan hệ hợp đồng thực tế giữa nhà cung cấp với các khách mua nƣớc ngoài và đƣợc chia thành 2 loại: FOB cấp I Các doanh nghiệp thực hiện theo phƣơng thức này sẽ thu mua nguyên liệu đầu vào từ một nhóm các nhà cung cấp do khách mua chỉ định.
Phƣơng thức xuất khẩu này đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may phải chịu trách nhiệm về tài chính để thu mua và vận chuyển nguyên liệu. FOB cấp II Các doanh nghiệp thực hiện theo phƣơng thức này sẽ nhận mẫu thiết kế sản phẩm từ các khách mua nƣớc ngoài và chịu trách nhiệm tìm nguồn nguyên liệu, sản xuất và vận chuyển nguyên liệu và thành phẩm tới cảng của khách mua. Điểm cốt yếu là các doanh nghiệp phải tìm đƣợc các nhà cung cấp nguyên liệu có khả năng cung cấp các nguyên liệu đặc biệt và phải tin cậy về chất lƣợng, thời hạn giao hàng. Rủi ro từ phƣơng thức này cao hơn nhƣng giá trị gia tăng mang lại cho công ty sản xuất cũng cao hơn tƣơng ứng.
ODM ( Original Design Manufacturing) Đây là phƣơng thức sản xuất xuất khẩu bao gồm khâu thiết kế và cả quá trình 9 sản xuất từ thu mua vải và nguyên phụ liệu, cắt, may, hoàn tất, đóng gói và vận chuyển. Khả năng thiết kế thể hiện trình độ cao hơn về tri thức của nhà cung cấp và vì vậy sẽ mang lại giá trị gia tăng cao hơn rất nhiều cho sản phẩm. Các doanh nghiệp ODM tạo ra những mẫu thiết kế, hoàn thiện sản phẩm và bán lại cho ngƣời mua, thƣờng là chủ của các thƣơng hiệu lớn trên thế giới. OBM ( Original Brand Manufacturing) Đây là phƣơng thức sản xuất đƣợc cải tiến dựa trên hình thức OEM, song ở phƣơng thức này các hãng sản xuất tự thiết kế và ký các hợp đồng cung cấp hàng hóa trong và ngoài nƣớc cho thƣơng hiệu riêng của mình.
Các nhà sản xuất tại các nền kinh tế đang phát triển tham gia vào phƣơng thức OBM chủ yếu phân phối sản phẩm tại thị trƣờng nội địa và thị trƣờng các quốc gia lân cận. Hiện nay, công ty TNHH may Tinh Lợi thực hiện g hàng may mặc xuất khẩu thông qua hình thức: gia công nhận nguyên liệu, giao thành phẩm và gia công mua nguyên liệu, bán thành phẩm. Đa số các hợp đồng đặt g mua nguyên liệu bán thành phẩm của công ty đều do các bạn hàng chuyển từ g nhận nguyên liệu, giao thành phâm chuyển sang. Đặc điểm của hoạt động gia công xuất khẩu Xuất phát từ khái niệm gia công thì hoạt động gia công hàng hóa xuất khẩu bao gồm hai nôi dung: Thứ nhất, bên nhận g sẽ nhận g cho thƣơng nhân nƣớc ngoài để nhận tiền công, thứ hai, bên đặt gia công thuê bên nhận g hàng hóa để kinh doanh thƣơng mại.
Trong nội dung của khóa luận chỉ để cập tới nội dung thứ nhất. Nhƣ vậy, hoạt động gia công có những đặc điểm sau: Thứ nhất, Hoạt động gia công là phƣơng thức sản xuất hàng hóa theo đơn đặt hàng. Bên đặt gia công đặt hàng cho bên gia công để sản xuất sản phẩm nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Văn bản để chứng tỏ tính pháp lý của đơn hàng đó là hợp đồng gia công.
Thứ hai, Nội dung gia công bao gồm: sản xuất, chế tác, sửa chữa, tái chế, lắp ráp, phân loại, đóng gói hàng hóa theo yêu cầu và bằng nguyên phụ liệu của bên đặt gia công. Khi bên đặt gia công đặt hàng doanh nghiệp nhận gia công sẽ phải thực hiện toàn bộ các công đoạn để sản xuất ra hàng hóa bằng nguyên phụ liệu mà bên 10 đặt gia công đã cung cấp hoặc yêu cầu. Các khâu trong quá trình sản xuất từ khi đƣa nguyên phụ liệu vào cho tới khi hoàn thành thành phẩm để đóng gói giao cho bên đặt đều phải do bên nhận gia công chịu trách nhiệm.