CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại. Hoạt động Ngân hàng với các nghiệp vụ truyền thống như nhận tiền gửi, cho vay, cung ứng dịch vụ thanh toán ra đời khi quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hóa của xã hội đã phát triển ở mức độ cao.500 đến 1800 trước công nguyên là giai đoạn phát triển sơ khai của Ngân hàng.
Phải đợi đến thế kỷ thứ V đến XVII, nghiệp vụ của một Ngân hàng thương mại mới đi vào giai đoạn phát triển và hoàn thiện. Các nghiệp vụ của một ngân hàng kinh doanh bao gồm nhận tiền gửi, cho vay, phát hành tiền giấy có khả năng đổi ra vàng, chiết khấu thương phiếu, chuyển tiền, thanh toán bù trừ và bảo lãnh. Động lực chủ yếu của quá trình phát triển nhanh chóng này là sự phát triển không ngừng của hoạt động thương mại trong từng quốc gia cũng như quốc tế. Các Ngân hàng cũng dần được phân hóa theo chức năng phát hành tiền giấy, và cũng từ đây khái nghiệm ngân hàng trung ương được nhắc đến từ cuối thế kỷ XIX.
Từ đầu thế kỷ XX đến nay, cùng với sự hoàn thiện về chức năng của các Ngân hàng trung ương, các ngân hàng trung gian cũng phát triển đa dạng về nghiệp vụ kinh doanh. Tuy nhiên, Ngân hàng thương mại vẫn là loại hình ngân hàng phổ biến và quan trọng nhất hiện nay. TS Nguyễn Văn Tiến, 2009, tr38) Tại Việt Nam, Luật các Tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã và Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Trong đó, hoạt động ngân hàng được định nghĩa theo Luật Ngân hàng nhà nước 2010 là “hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. 6 Trong nền kinh tế thị trường, NHTM đóng vai trò là một trung gian tài chính, làm nhiệm vụ điều phối lại nguồn vốn trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu tiết kiệm và đầu tư của xã hội. Với sự có mặt của NHTM, nền kinh tế trở nên sôi động hơn, tiết kiệm được thời gian và chi phí, kích thích tăng trưởng và đầu tư. Có nhiều cách để phân loại NHTM.
- Căn cứ theo hình thức sở hữu: NHTM được chia thành 5 nhóm bao gồm: NHTM Quốc doanh, NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, NHTM có 100% vốn nước ngoài. - Căn cứ theo tính chất, chiến lược kinh doanh: Ngân hàng được chia làm 3 loại là Ngân hàng bán buôn, Ngân hàng bán lẻ và Ngân hàng hỗn hợp. - Căn cứ theo tính chất hoạt động: Ngân hàng bao gồm Ngân hàng chuyên doanh và Ngân hàng kinh doanh tổng hợp. Nhìn chung, cùng với quá trình hội nhập và phát triển, các NHTM Cổ phần đang giữ vai trò chủ đạo trong thúc đẩy sự phát triển của hệ thống Ngân hàng nói riêng, nền kinh tế nói chung.
Cùng với đó, các Ngân hàng hiện cũng đang chuyển dịch mạnh mẽ để khai thác tối đa thị phần dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Các hoạt động của Ngân hàng thương mại. Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM bao gồm: nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn và các hoạt động kinh doanh dịch vụ.
Cụ thể như sau: 1. Nghiệp vụ nguồn vốn Đây là nghiệp vụ tạo nguồn vốn kinh doanh cho NHTM. Hoạt động nguồn vốn được phản ánh thông qua kết cấu nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn của Ngân hàng, Vốn huy động, Vốn đi vay và các nguồn vốn khác. Trong đó, Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng nhất trong số vốn thu hút từ bên ngoài của các NHTM, bao 7 gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng còn có thể vay vốn từ NHTW hay các thị trường tín dụng khác, hoặc thị trường tài chính trong và ngoài nước thông qua một số nghiệp vụ như chiết khấu/tái chiết khấu giấy tờ có giá, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngân hàng. Nghiệp vụ sử dụng vốn Bao gồm các nghiệp vụ liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn của Ngân hàng như: - Nghiệp vụ Ngân quỹ: Mục đích nhằm đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên. Ngân hàng luôn giữ một lượng tiền mặt dưới các dạng sau: tiền mặt tại quỹ của Ngân hàng, tiền gửi tại các NHTM khác, tiền gửi tại NHTW, tiền mặt trong quá trình thu. - Nghiệp vụ tín dụng: Theo Luật các tổ chức tín dụng 2020, cấp tín dụng “là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
- Nghiệp vụ đầu tư: Là nghiệp vụ mà NHTM dùng vốn của mình mua các chứng khoán (các chứng khoán chính phủ và một số chứng khoán công ty) hoặc đầu tư theo dự án. - Nghiệp vụ tài sản có khác: Đó là những vốn hiện vật như trụ sở làm việc, máy móc, trang thiết bị dùng cho hoạt động do Ngân hàng sở hữu. Nghiệp vụ trung gian của NHTM Nghiệp vụ trung gian là nghiệp vụ mà NHTM thay mặt khách hàng thực hiện việc thanh toán hay các ủy thác khác để thu phí. Nghiệp vụ trung gian chủ yếu gồm nghiệp vụ chuyển tiền – thanh toán hộ, nghiệp vụ thu hộ, nghiệp vụ tín thác và nghiệp vụ qua lại đồng nghiệp.
Khái quát hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại. Khái quát hoạt động cho vay Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Trong hoạt động tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất của NHTM. Hoạt động cho vay là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho Ngân hàng do việc thu hồi nợ vay không những phụ thuộc vào bản thân khách hàng mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiên tai…Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, sẽ dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng.
Vai trò của hoạt động cho vay - Đối với nền kinh tế: Vai trò kinh tế cơ bản của cho vay là luân chuyển vốn từ những người có nguồn vốn thặng dư đến những người thiếu hụt. Nguyên nhân là những người tiết kiệm thường không đồng thời là những người có cơ hội đầu tư sinh lời cao. Do đó, nếu không có ngân hàng thì việc luân chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế sẽ ách tắc. Vì vậy, kênh luân chuyển vốn qua Ngân hàng có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy hiệu quả của nền kinh tế.
Đồng thời, thông qua hoạt động cho vay mà vốn từ những người thiếu dự án đầu tư hiệu quả được chuyển tới những người có dự án đầu tư hiệu quả hơn nhưng thiếu vốn. Kết quả là nền kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và nâng cao hiệu suất lao động. Cùng với đó, thông qua việc cho vay vào những ngành nghề, khu vực kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề đó, tạo nên cơ cấu hợp lý và hiệu quả. Hoạt động cho vay cũng góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường, kiểm soát giá trị đồng tiền, là kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội.
- Đối với khách hàng: 9 Hoạt động cho vay đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng, giúp nhà đầu tư nắm bắt được nhưng cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có đủ vốn để mở rộng sản xuất, cá nhân có đủ khả năng tài chính để trang trải các khoản chi tiêu nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Hoạt động cho vay cũng ràng buộc trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi của khách hàng cho Ngân hàng, là động lực để khách hàng sử dụng vốn vay hiệu quả, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp cũng như đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. - Đối với Ngân hàng: Hoạt động cho vay là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng. Mặc dù tỷ trọng của hoạt động tín dụng đang có xu hướng giảm song tín dụng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng vẫn luôn là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất đối với Ngân hàng.
Thông qua hoạt động cho vay mà ngân hàng đa dạng hóa được danh mục tài sản có, giảm thiểu rủi ro, gia tăng lợi nhuận, mở rộng được các loại hình dịch vụ khác, như thanh toán, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ…. Phân loại hoạt động cho vay Có nhiều cách phân loại hoạt động cho vay của NHTM, căn cứ vào một số tiêu chí như thời hạn cho vay (Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn), biện pháp bảo đảm tín dụng (Cho vay có bảo đảm và cho vay không có bảo đảm), mục đích tín dụng (Cho vay bất động sản, cho vay công thương nghiệp, cho vay nông nghiệp, cho vay tiêu dùng…), chủ thể vay vốn (Cho vay doanh nghiệp, cho vay cá nhân, hộ gia đình và cho vay các tổ chức tài chính), phương thức cho vay (Cho vay theo hạn mức, cho vay từng lần). Trong các cách phân loại trên, phân loại theo chủ thể vay vốn tương đối phổ biến tại các NHTM.