CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA LĨNH VỰC SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA LĨNH VỰC SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan Doanh nghiệp nhỏ và vừa lĩnh vực sản xuất và thương mại dịch vụ 1.1 Khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp được xác định là DNVV khi đáp ứng điều kiện về số vốn đã góp, tổng doanh thu trong 01 năm, lao động định biên đang công tác, mục đích hoạt động,… Các điều kiện này không cố định và thay đổi theo từng thời kỳ tại từng quốc gia, từng vùng, tùy vào đặc điểm thể chế, môi trường, trình độ lao động, giá trị tài sản. Theo quan niệm các tổ chức trên thế giới Bảng 1. Tiêu chí xác định DNVV của một số tổ chức trên thế giới Lao động STT Phân loại Tài sản Doanh thu (Người) Theo Liên minh Châu Âu - EU 1 Doanh nghiệp siêu nhỏ <10 < 2 tỷ € < 2 tỷ € 2 Doanh nghiệp nhỏ < 50 < 10 tỷ € < 10 tỷ € 3 Doanh nghiệp vừa < 250 < 43 tỷ € < 50 tỷ € Theo Chính phủ Canada 1 Doanh nghiệp siêu nhỏ 1–4 2 Doanh nghiệp nhỏ 5 – 99 3 Doanh nghiệp vừa 100 – 499 4 Doanh nghiệp lớn ≥ 500 Theo Công ty Tài chính Quốc tế (The International Finance Corporation) 1 Doanh nghiệp siêu nhỏ <10 < 0,1 triệu USD < 0,1 triệu USD 2 Doanh nghiệp nhỏ < 50 < 3 triệu USD < 3 triệu USD 3 Doanh nghiệp vừa < 300 < 15 triệu USD < 15 triệu USD Nguồn: Tác giả tổng hợp Nếu Liên minh Châu Âu (EU) xác định dựa trên quy mô doanh nghiệp theo số lượng lao động, tài sản, doanh thu thì Chính phủ Canada xác định doanh nghiệp dựa vào số lượng lao động (Bảng 1. Công ty Tài chính Quốc tế (The International Finance Corporation) cũng đưa ra các tiêu chí xác định DNVV dựa trên số lượng lao động, tổng tài sản và doanh thu năm.
8 Theo hệ thống pháp luật Việt Nam Tại Việt Nam, khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17/06/2020 quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Theo đó, mục đích kinh doanh là khái niệm cần làm rõ. Việc giải thích mục đích kinh doanh cũng được nêu ra tại khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, một đơn vị không được coi là một doanh nghiệp khi hoạt động không vì mục tiêu sinh lời mà nhằm các mục đích khác như an sinh xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu Chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Liên đoàn Lao động,…).
Hiện nay, theo Luật hỗ trợ DNVV năm 2017 và Nghị định 80/2021/NĐ-CP ngày 26/08/2021 của Chính phủ không giải thích thế nào là DNVV mà chỉ đưa ra các tiêu chí xác định DNVV. Tiêu chí được lựa chọn để xác định quy mô doanh nghiệp đã được luật hóa tại Điều 5, 6, 7, 8, 9, 10 Nghị định 80/2021/NĐ-CP ngày 26/08/2021 của Chính phủ Quy định Chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hỗ trợ DNVV, bao gồm lĩnh vực hoạt động động, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm, tổng doanh thu của năm, tổng nguồn vốn (Bảng 1. Bảng tiêu chi xác định DNVV theo quy định tại Nghị định 80/2021/NĐ- CP ngày 26/08/2021 của Chính phủ Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, Thương mại, dịch vụ công nghiệp, xây dựng Lĩnh Số lao động Số lao động tham Tổng Tổng Tổng Tổng vực tham gia gia BHXH bình doanh thu nguồn doanh thu nguồn BHXH bình quân năm của năm vốn của năm vốn quân năm Doanh Không Không Không Không Không quá 10 Không quá nghiệp quá 03 tỷ quá 03 quá 10 tỷ quá 03 người 10 người siêu nhỏ đồng tỷ đồng đồng tỷ đồng Doanh Không Không Không Không Không quá 100 Không quá nghiệp quá 50 tỷ quá 20 quá 100 quá 50 người 50 người nhỏ đồng tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng Doanh Không Không Không Không Không quá 200 Không quá nghiệp quá 200 quá 100 quá 300 quá 100 người 100 người vừa tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng tỷ đồng 9 Nguồn: Nghị định 80/2021/NĐ-CP ngày 26/08/2021 của Chính phủ 1.2 Đặc điểm Doanh nghiệp nhỏ và vừa DNVV tại Việt Nam mang những đặc điểm sau đây Thứ nhất, DNVV có quy mô hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ nhỏ và vừa, vòng quay vốn nhanh. Các DNVV được thành lập với vốn điều lệ từ nhỏ đến vừa; dễ dàng tạo dựng nhà xưởng, phân xưởng, đầu tư hệ thống công trình phục vụ ở tầm trung, huy động nhân lực ban đầu không lớn.
Hơn nữa, nhóm này thường kinh doanh, sản xuất và cung cấp dịch vụ nhiều chủng loại phong phú. Chính vì vậy, vòng quay vốn tương đối nhanh, thường từ 02 vòng đến 03 vòng đối với sản xuất thương mại và không quá 01 vòng đối với thi công xây dựng. Điều này tạo ưu điểm đối với DNVV, đó là tăng vòng quay vốn, cải thiện khả năng tái đầu tư, mở rộng doanh nghiệp cũng như mở rộng ngành nghề liên quan đến ngành nghề chính đã đăng ký. Tuy nhiên, đặc điểm này cũng tạo ra nhược điểm cho DNVV.
Quy mô vốn không lớn tạo ra khó khăn khi doanh nghiệp tái đầu tư. Nguồn vốn tái đầu tư thường được DNVV vay từ các cá nhân trong ban quản trị, ban điều hành. Nguồn vốn này nhỏ và không đảm bảo quay vòng vốn liên tục, thông suốt. Đối với tạo dựng vốn từ bên thứ ba, thông qua việc huy động vốn cá nhân, doanh nghiệp khác khi phát hành trái phiếu hay vay vốn NHTM là tương đối khó khăn khi DNVV có tiềm lực nhỏ hoặc chưa vững vàng.
Thứ hai, DNVV có tổ chức tinh gọn, năng lực quản trị chưa cao. Do quy mô vốn, lao động không nhiều nên tổ chức DNVV thường tinh gọn, không phát sinh các phòng ban cồng kềnh, việc quản lý mang tính trực tiếp từ cao xuống thấp. Đặc điểm này tiết kiệm các chi phí hoạt động, truyền đạt thông tin nhanh chóng và dễ dàng nắm bắt được năng lực của từng nhân sự. Thế nhưng, việc không có sự phân công tường tận hay chuyên biệt hóa các đầu mục công việc mà chủ yếu là kiêm nhiệm khiến hiệu quả công việc chưa cao, không đào tạo được đội ngũ nhân sự một cách bài bản và giữ chân nhân sự làm việc lâu dài.
Thứ ba, nhanh chóng có phương án phù hợp với sự biến động của thị trường nhưng khó khăn trong chiếm lĩnh thị phần. DNVV đa số thiếu định hướng sản xuất, kinh doanh dài hạn nên tính ổn định 10 thấp, thường chịu tác động từ tình hình chung. Việc này khiến các DNVV phải tìm ra các phương án phù hợp với sự biến động, điển hình như việc chuyển đổi kinh doanh từ truyền thống sang số hóa thời kì dịch bệnh Covid-19. Hơn nữa, các doanh nghiệp thường gặp cạnh tranh trong việc chiếm lĩnh thị phần.
Để hợp tác với các đối tác uy tín, các doanh nghiệp cần đạt một số yêu cầu nhất định về số vốn, kinh nghiệm làm việc trong ngành hay quy mô tổ chức,. Việc đáp ứng các điều kiện này tương đối khó khăn nên DNVV thường mất một thời gian tích lũy ban đầu trong khi điều này là vô cùng khó khăn để nâng tính cạnh tranh. Không những vậy, DNVV phát sinh chi phí biến đổi lớn. Nếu doanh nghiệp lớn thường tận dụng lợi thế nhờ quy mô khiến giá thành nguyên vật liệu đầu vào rẻ hơn, tiết kiệm chi phí hoặc có thể tăng chiết khấu cho các đơn vị đầu ra thì DNVV không làm được như vậy.
Ngoài những yếu tố về khả năng, DNVV còn gặp khó khăn khi tiếp cận thông tin. Thông tin mang tính chính xác, đầy đủ và kịp thời tạo ưu thế lớn trong việc điều hành doanh nghiệp. Tuy nhiên, DNVV khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về pháp luật, chính sách, đặc biệt là những tài liệu về khế hoạch và văn bản pháp luật mang tính định hướng chung tại các tỉnh và thành phố; khó khăn trong việc dự đoán khả năng thực thi chính sách; không có nhiều thông tin về hội nhập, về thay đổi của thị trường đầu ra và đầu vào, về cập nhật chính sách ưu đãi chưa thật sự đầy đủ và rõ ràng.3 Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa lĩnh vực sản xuất và thương mại dịch vụ Thứ nhất, DNVV lĩnh vực sản xuất và thương mại dịch vụ đóng góp vào sự phát triển kinh tế toàn quốc. DNVV lĩnh vực sản xuất và thương mại dịch vụ cung cấp lượng lớn về sản phẩm, dịch vụ; đa dạng chủng loại, mẫu mã và đáp ứng nhu cầu lớn.
DNVV lĩnh vực sản xuất và thương mại dịch vụ hình thành và hoạt động nhằm phục vụ những “ngách” thị trường khác nhau trong cuộc sống, tham gia vào các khâu trong quy trình luân chuyển. Chính vì vậy, sản phẩm dịch vụ được tạo thành và mang đến cho người tiêu dùng trải nghiệm phong phú. Các doanh nghiệp cùng ngành cạnh tranh không ngừng, từ đó, tạo ra những sản phẩm nổi bật, phục vụ nhu cầu mang tính riêng biệt. Hơn nữa, DNVV lĩnh vực sản xuất và thương mại dịch vụ còn là các đối tác cung cấp nguyên nhiên vật liệu đầu vào và trung gian phân phối hàng hóa dịch vụ cũng như tiêu thu sản phẩm của doanh nghiệp lớn.
Điều này phát huy tính chuyên môn hóa trong 11 từng khâu, đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp lớn duy trì hoạt động đều đặn. Thứ hai, DNVV lĩnh vực sản xuất và thương mại dịch vụ tạo công việc tương thích với nhiều đối tượng, ổn định xã hội, đào tạo nhân sự cho nền kinh tế thị trường. Các DNVV lĩnh vực sản xuất và thương mại dịch vụ hoạt động tại các địa phương đóng góp vào việc tạo ra nhiều công việc mới cho người lao động, tăng thu bình quân đầu người, nâng cao mức sống của người lao động, từ đó, giảm thiểu các tệ nạn xã hội, tránh dịch chuyển lao động giữa các vùng miền. Bên cạnh vai trò an sinh xã hội, DNVV lĩnh vực sản xuất và thương mại dịch vụ còn là nơi đào tạo nhân sự.