Tổng quan nghiên cứu

Chăn nuôi lợn là ngành trụ cột trong cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, cung ứng hơn 70% tổng sản lượng thịt xẻ toàn quốc với quy mô đàn đạt 27,7 triệu con vào năm 2015. Tuy nhiên, đợt khủng hoảng giá thịt lợn giai đoạn cuối năm 2016 và đầu năm 2017 đã bộc lộ rõ những điểm nghẽn cố hữu: mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm 75% đến 80% tổng đàn, tính liên kết giữa các tác nhân lỏng lẻo và chi phí trung gian quá cao. Tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương – nơi có diện tích đất nông nghiệp chiếm 67,4% tổng diện tích tự nhiên 10.934,3 ha – ngành chăn nuôi lợn đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải chuyển dịch phương thức sản xuất nhằm giảm thiểu rủi ro thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là phân tích thực trạng vận hành, dòng chuyển dịch sản phẩm và sự phân bổ lợi ích kinh tế giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng thịt lợn trên địa bàn huyện. Mục tiêu cụ thể gồm: hệ thống hóa lý luận về chuỗi cung ứng nông sản; khảo sát toàn diện thực trạng chăn nuôi lợn tại Cẩm Giàng giai đoạn 2014 - 2016; bóc tách các yếu tố chi phối hiệu quả chuỗi; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững đến năm 2025.

Nghiên cứu được triển khai tại 3 xã trọng điểm gồm Cẩm Định, Ngọc Liên và Cẩm Hoàng trong khung thời gian từ tháng 10/2016 đến tháng 10/2017. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa cụ thể mức thu nhập của từng mắt xích, cung cấp luận cứ khoa học để cắt giảm từ 8% đến 12% chi phí trung gian và gia tăng ít nhất 20% giá trị thu nhập cho các nông hộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tích hợp ba hệ thống lý thuyết nền tảng trong quản trị và kinh tế nông nghiệp:

Thứ nhất, Lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter (1985), tập trung vào các hoạt động sơ cấp (cung ứng đầu vào, sản xuất, chế biến, phân phối) và hoạt động bổ trợ nhằm tối ưu hóa giá trị gia tăng tích lũy.

Thứ hai, Lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management - SCM), phân tích sự đồng bộ hóa giữa ba dòng chảy: dòng vật chất (con giống, thức ăn, lợn thịt), dòng thông tin (giá cả, nhu cầu tiêu dùng) và dòng tài chính xuyên suốt từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng.

Thứ ba, Lý thuyết phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, đặt mục tiêu tăng trưởng sản lượng song hành với bảo đảm phúc lợi cho 56,01% lực lượng lao động nông thôn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất, nước.

Bốn khái niệm cốt lõi được định vị xuyên suốt công trình gồm:

  • Chuỗi cung ứng nông sản: Mạng lưới liên kết các tác nhân từ cung ứng vật tư, chăn nuôi, thu gom, giết mổ đến bán lẻ thực phẩm.
  • Tác nhân chuỗi (Actors): Các chủ thể kinh tế trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia tạo lập giá trị sản phẩm.
  • Hiệu quả kinh tế chuỗi: Chỉ số đo lường tỷ suất sinh lời trên tổng chi phí đầu tư của toàn bộ hệ thống.
  • Liên kết dọc: Mối quan hệ hợp tác có ràng buộc pháp lý hoặc hợp đồng kinh tế giữa khâu sản xuất và khâu phân phối.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2014 - 2016 của Chi cục Thống kê huyện Cẩm Giàng, số liệu của Bộ Nông nghiệp & PTNT và các báo cáo thị trường của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA).

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc và bảng hỏi trực tiếp với tổng cỡ mẫu N = 100 đối tượng. Địa bàn điều tra được chọn theo phương pháp phân tầng có chủ đích tại 3 xã đại diện: Cẩm Định (vùng chăn nuôi truyền thống), Ngọc Liên (vùng phát triển gia trại) và Cẩm Hoàng (vùng chăn nuôi thương phẩm kết hợp dịch vụ). Cơ cấu mẫu điều tra bao gồm: 60 hộ chăn nuôi lợn thịt, 3 cơ sở cung ứng con giống, 4 đại lý thức ăn chăn nuôi, 5 cơ sở kinh doanh thuốc thú y, 5 hộ giết mổ, 2 thương lái thu gom, 5 cơ sở chế biến (giò, chả, ruốc), 8 tiểu thương bán lẻ và 8 hộ tiêu dùng.

Phương pháp phân tích kinh tế so sánh doanh thu - chi phí và phương pháp phân tích biên lợi nhuận (Profit Margin Analysis) được lựa chọn nhằm bóc tách chính xác giá trị gia tăng ở từng công đoạn. Lý do chọn phương pháp này là vì tính phù hợp vượt trội trong việc phát hiện những bất cập về phân bổ lợi ích giữa các chủ thể. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý số liệu được thực hiện từ tháng 10/2016 đến tháng 10/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại huyện Cẩm Giàng giai đoạn 2014 - 2016 mang lại bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, tính chất khép kín cục bộ của thị trường tiêu thụ: Có tới 86,59% tổng sản lượng lợn hơi xuất chuồng được tiêu thụ ngay trên địa bàn huyện Cẩm Giàng. Trong đó, 79,36% sản lượng được tiêu thụ dưới dạng thịt tươi sống tại các chợ truyền thống và chỉ có 7,23% được đưa vào chế biến sâu thành các sản phẩm như giò, chả, ruốc.

Thứ hai, sự mất cân đối nghiêm trọng về thu nhập trên 100 kg lợn hơi: Khâu chế biến thu được mức lợi nhuận cao nhất đạt 2,57 triệu đồng/100 kg sản phẩm. Ngược lại, hộ chăn nuôi trực tiếp – đối tượng bỏ vốn lớn nhất và gánh chịu toàn bộ rủi ro dịch bệnh – chỉ thu về 658,79 nghìn đồng/100 kg, tương đương 25,6% mức thu nhập của hộ chế biến.

Thứ ba, khoảng cách thu nhập tính theo ngày công lao động: Người lao động tại các cơ sở giết mổ đạt mức thu nhập bình quân cao nhất chuỗi với 861,36 nghìn đồng/người/ngày nhờ tốc độ luân chuyển vốn nhanh. Trong khi đó, người chăn nuôi lợn chỉ đạt mức thu nhập 64,21 nghìn đồng/người/ngày, tạo ra mức chênh lệch thu nhập lên đến 13,4 lần.

Thứ tư, áp lực chi phí từ chuỗi cung ứng đầu vào: Toàn bộ 60 hộ chăn nuôi khảo sát đều phải mua thức ăn công nghiệp và thuốc thú y qua 2 đến 3 tầng đại lý trung gian, làm giá vật tư bị đội thêm từ 8% đến 12% so với giá bán buôn của nhà máy sản xuất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng trên bắt nguồn từ việc chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ chiếm trên 70% tổng đàn tại địa phương. Quy mô đàn nhỏ khiến người nuôi không có năng lực đàm phán giá cả với các đại lý cám và thương lái thu mua. Tình trạng thiếu vắng các hợp đồng liên kết bao tiêu khiến người chăn nuôi hoàn toàn bị động trước biến động thị trường.

Khi so sánh với bài học thực tiễn tại thị xã Đông Triều (Quảng Ninh) và huyện Bình Lục (Hà Nam) – nơi chính quyền dành từ 10% đến 15% quỹ đất cho vùng chăn nuôi tập trung và hỗ trợ 50% lãi suất vay vốn – huyện Cẩm Giàng còn chậm trễ trong việc hình thành các hợp tác xã chăn nuôi kiểu mới và các cơ sở giết mổ tập trung đạt chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.

Các dữ liệu thực nghiệm trong luận văn được mô hình hóa hiệu quả thông qua sơ đồ dòng chuyển dịch sản phẩm từ 60 hộ chăn nuôi qua 2 hộ thu gom, 5 hộ giết mổ tới 8 hộ bán lẻ, kết hợp với bảng đối sánh cơ cấu chi phí - lợi nhuận của 9 nhóm tác nhân. Mô hình này làm sáng tỏ luận điểm: tác nhân nắm giữ khâu chế biến và phân phối bán lẻ đang chi phối toàn bộ chuỗi giá trị và hưởng tỷ suất lợi nhuận cao nhất.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy phát triển chăn nuôi lợn theo chuỗi giá trị bền vững tại huyện Cẩm Giàng, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  1. Thành lập 5 đến 7 hợp tác xã chăn nuôi kiểu mới giai đoạn 2018 - 2023: UBND các xã Cẩm Định, Ngọc Liên và Cẩm Hoàng cùng Hội Nông dân trực tiếp vận động, liên kết tối thiểu 60% số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ vào mô hình hợp tác xã. Mục tiêu giảm từ 8% đến 10% chi phí đầu vào nhờ mua trực tiếp từ nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi.

  2. Quy hoạch và xây dựng 2 khu giết mổ - chế biến tập trung trước năm 2025: UBND huyện Cẩm Giàng và Phòng Nông nghiệp & PTNT chủ trì quy hoạch mặt bằng, ban hành chính sách hỗ trợ 100% chi phí kiểm dịch thú y trong năm đầu tiên nhằm nâng tỷ lệ thịt lợn đưa vào chế biến từ 7,23% lên mức 15% đến 20%.

  3. Mở rộng kênh phân phối hiện đại sang các khu công nghiệp: Phòng Kinh tế & Hạ tầng phối hợp với Ban Quản lý các Khu công nghiệp Tân Trường, Đại An, Phúc Điền ký kết hợp đồng tiêu thụ thịt lợn an toàn VietGAP cho các bếp ăn tập thể, phấn đấu nâng tỷ lệ thịt lợn xuất bán ra ngoài huyện vượt mức 30% vào năm 2025.

  4. Triển khai gói tín dụng ưu đãi và bảo hiểm chăn nuôi: Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT huyện Cẩm Giàng áp dụng gói vay lãi suất ưu đãi giảm từ 2% đến 3%/năm cho các hộ đầu tư chuồng trại khép kín quy mô từ 50 lợn thịt trở lên, kết hợp hỗ trợ 50% phí bảo hiểm dịch bệnh cho các hộ đạt chứng nhận an toàn sinh học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách tại các cơ quan nông nghiệp cấp tỉnh, huyện: Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung, ban hành chính sách chuyển đổi 1.060 ha đất canh tác kém hiệu quả sang phát triển trang trại công nghệ cao.

Thứ hai, chủ trang trại, gia trại và nông hộ chăn nuôi lợn: Giúp người sản xuất nắm rõ cấu trúc chi phí đầu vào, nhận diện sự chênh lệch giá trị để chủ động liên kết nhóm hộ, thương lượng giá bán với thương lái và cắt giảm chi phí trung gian.

Thứ ba, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, cơ sở giết mổ và chế biến thực phẩm: Ứng dụng mô hình liên kết để thiết lập mạng lưới phân phối trực tiếp đến 60 hộ chăn nuôi, giảm bớt 2 cấp đại lý và phát triển các dòng sản phẩm thịt chế biến có giá trị gia tăng cao.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp: Nguồn tư liệu học thuật phong phú với phương pháp chọn mẫu phân tầng 100 tác nhân, cung cấp hệ thống chỉ tiêu phân tích chuỗi cung ứng bài bản và logic.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao người chăn nuôi lợn tại Cẩm Giàng nhận mức thu nhập thấp nhất trong chuỗi? Hộ chăn nuôi phải chịu toàn bộ rủi ro về dịch bệnh và biến động giá thức ăn nhưng không có quyền định giá bán, dẫn đến thu nhập chỉ đạt 658,79 nghìn đồng/100 kg lợn hơi, thấp hơn rất nhiều so với mức 2,57 triệu đồng của hộ chế biến.

  2. Thị trường tiêu thụ thịt lợn tại huyện Cẩm Giàng có đặc điểm gì nổi bật? Thị trường mang tính tự cung tự cấp cục bộ với 86,59% sản lượng lợn hơi được tiêu thụ nội huyện. Trong đó, 79,36% tiêu thụ dưới dạng thịt tươi sống qua chợ dân sinh và chỉ 7,23% được đưa vào các cơ sở chế biến giò chả.

  3. Đề tài đã sử dụng cỡ mẫu và phương pháp khảo sát thực địa như thế nào? Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp 100 tác nhân thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng tại 3 xã đại diện (Cẩm Định, Ngọc Liên, Cẩm Hoàng), gồm 60 hộ chăn nuôi, 12 cơ sở đầu vào, 20 cơ sở đầu ra và 8 người tiêu dùng.

  4. Sự chênh lệch thu nhập theo ngày công lao động phản ánh thực tế gì? Lao động giết mổ đạt thu nhập 861,36 nghìn đồng/người/ngày nhờ chu chuyển vốn nhanh trong 24 giờ, trong khi người chăn nuôi chỉ đạt 64,21 nghìn đồng/người/ngày do chu kỳ nuôi kéo dài từ 4 đến 5 tháng với nhiều chi phí phát sinh.

  5. Giải pháp cốt lõi nào giúp cân bằng lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi? Giải pháp đột phá là thành lập các hợp tác xã chăn nuôi liên kết trực tiếp với nhà máy sản xuất thức ăn và cơ sở giết mổ tập trung, giúp hộ chăn nuôi tiết kiệm từ 8% đến 12% chi phí đầu vào và nâng tỷ lệ chế biến lên 15%.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện bức tranh chuỗi cung ứng thịt lợn tại huyện Cẩm Giàng giai đoạn 2014 - 2016 với 86,59% sản lượng tiêu thụ nội huyện và 79,36% là thịt tươi sống.
  • Lượng hóa chính xác sự bất bình đẳng về phân bổ lợi ích: hộ chăn nuôi chỉ thu về 658,79 nghìn đồng/100 kg lợn hơi, trong khi khâu chế biến đạt 2,57 triệu đồng/100 kg.
  • Nhận diện khoảng cách lớn về thu nhập ngày công: 861,36 nghìn đồng/người/ngày ở khâu giết mổ so với 64,21 nghìn đồng/người/ngày ở khâu chăn nuôi trực tiếp.
  • Đề xuất lộ trình 4 giải pháp trọng điểm giai đoạn 2018 - 2025: thành lập hợp tác xã kiểu mới, quy hoạch 2 cơ sở giết mổ tập trung, mở rộng thị trường khu công nghiệp và hỗ trợ tín dụng giảm 2% đến 3% lãi suất.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn vững chắc cho công tác quản trị chuỗi cung ứng nông sản tại các huyện đồng bằng sông Hồng.

Quý độc giả, các cơ quan quản lý và các nhà nghiên cứu có thể khai thác toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Đắc Viêm để ứng dụng hiệu quả vào công tác hoạch định chính sách và tổ chức sản xuất nông nghiệp bền vững.