CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT 1. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CHĂN NUÔI BÒ THỊT 1. Vai trò của chăn nuôi bò thịt Chăn nuôi bò thịt đóng góp vào gia tăng sản lượng và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Trong nền kinh tế quốc dân, nông nghiệp và khu vực nông thôn đóng một vị trí quan trọng. Vị trí này được thể hiện qua việc cung cấp sản phẩm làm nguyên liệu cho sản xuất, xuất khẩu sản phẩm tạo nguồn ngoại tệ, cung cấp lao động cho các lĩnh vực kinh tế và là thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và góp phần giải quyết vấn đề xã hội cho đất nước.
Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, nông nghiệp là nguồn sống của đại đa số dân cư, do vậy phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là cơ sở để giải quyết nhiều vấn đề của đất nước như: đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên, xóa đói giảm nghèo và ổn định kinh tế xã hội. Trong những năm qua, ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt những thành công nhất định, mức tăng trưởng bình quân từ 1991 đến 2009 là 5,5% [24], nhưng tốc độ tăng giá trị gia tăng của nông nghiệp trong thời gian này chỉ là 4,1%. Nhưng mức đóng góp của nông nghiệp vào tốc độ tăng trưởng còn thấp, nếu năm 2000 mức đóng góp của nông nghiệp là 24% thì năm 2009 chỉ còn 16%. Như vậy, chất lượng của sự tăng trưởng trong nông nghiệp chưa cao.
Trong cùng thời gian đó, với sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ, cơ cấu ngành kinh tế có sự thay đổi: nông nghiệp tăng khá về giá trị 9 tuyệt đối, song tỷ trọng trong GDP giảm từ 40,49% năm 1991 xuống còn 24,3 % vào năm 2000 và gần 20,5% năm 2009, cũng trong thời gian đó công nghiệp tăng từ 23,79% lên 36,61% và 40 % còn dịch vụ là 35,72% lên 39,09% và 41%. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế cũng có sự thay đổi nhưng không khả quan lắm, lao động trong nông nghiệp giảm từ 72,6% (1991) tổng số lao động cả nước xuống còn 62,61% năm 2000 và khoảng 52% năm 2009. Lao động trong công nghiệp tăng không đáng kể, nếu năm 1991 chiếm 13,6% thì năm 2009 là 13,5%. Sự chuyển dịch lao động chủ yếu từ nông nghiệp sang các ngành dịch vụ, năm 1991 tỷ trọng lao động trong các ngành dịch vụ là 13,8% thì năm 2009 là 34%.
Mặc dù kinh tế đã có sự chuyển dịch và thể hiện được xu hướng tiến bộ (tăng tỷ trọng của nông nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP) nhưng cơ cấu còn chuyển dịch chậm đặc biệt là cơ cấu lao động. Muốn phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, thực hiện công nghiệp hóa cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Trong nông nghiệp theo nghĩa hẹp có hai ngành lớn là trồng trọt và chăn nuôi, ngoài ra còn có thể kể tới một số ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông nghiệp. Trong điều kiện của nước ta, việc phát triển ngành chăn nuôi vừa đáp ứng với điều kiện thực tế, vừa phù hợp xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế - tăng tỷ trọng của chăn nuôi trong giá trị sản lượng ngành nông nghiệp và tập trung vào phát triển đại gia súc.
Từ năm 1991 trở lại đây, nhìn chung chăn nuôi có tốc độ phát triển nhanh hơn đặc biệt là những năm gần đây. Tuy nhiên vì quy mô của chăn nuôi vẫn còn nhỏ, nên tốc độ của nó chưa thể thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành. Nếu năm 1996 trong 1% tăng trưởng của ngành nông nghiệp, ngành trồng trọt đóng góp 86%, chăn nuôi chỉ đóng góp 13,4%, đến năm 2009 tỷ trọng có sự thay đổi trong đó trồng trọt tuy có giảm nhưng vẫn còn cao 10 khoảng 63,5%, chăn nuôi tăng lên 35% [25]. Như vậy, với những ưu thế của mình muốn cho nông nghiệp phát triển ta cần phải phát triển chăn nuôi và thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp.
Chăn nuôi bò thịt đảm bảo cho nền kinh tế nhiều loại sản phẩm Từ ngàn đời nay con người đã thuần hoá và nuôi bò để phục vụ cho các lợi ích khác nhau. Cũng giống một số loài nhai lại khác như dê, cừu, trâu… bò có khả năng sử dụng và chuyển hoá các loại thức ăn thô xanh (các loại rau, cỏ tự nhiên, cỏ trồng.), các phế phụ phẩm công - nông nghiệp (rơm lúa, bã sắn, ngọn mía, bẹ và lá ngô, dây khoai lang…) có giá trị hàng hoá rất thấp hoặc thậm chí không có giá trị hàng hoá thành năng lượng sức kéo, thành thịt, sữa - những nguồn dinh dưỡng quí giá cho con người. Bò có khả năng sử dụng, đồng hoá các chất chứa nitơ phi prôtein như urê, amôniac…và biến chúng thành prôtein của cơ thể. Sở dĩ bò có được khả năng này là nhờ cấu tạo dạ dày bốn túi, trong đó có dạ cỏ rất phát triển với hệ vi sinh vật vô cùng phong phú.
Chăn nuôi bò thịt giúp khai thác tối ưu các nguồn lợi thiên nhiên (đồng bãi chăn thả) và nguồn lợi con người (lao động phụ, dư thừa) trong một khu vực hay một vùng nào đó, mang lại hiệu quả kinh tế cao, thiết thực. Bò có hệ thống thần kinh phát triển cho nên chúng có khả năng thích ứng rộng và chống chịu tốt với những điều kiện sống khó khăn, với bệnh tật. Khi di chuyển từ vùng này sang vùng khác chúng thích nghi dễ dàng hơn so với các loài gia súc khác. Bò thịt cung cấp thịt cho nhu cầu của con người Thịt bò được xếp vào nhóm “thịt đỏ”, có giá trị dinh dưỡng cao.
Từ thịt bò người ta có thể chế biến ra nhiều món ăn ngon bổ. Chính vì vậy, trên thị trường thịt bò luôn luôn đắt hơn thịt các loại gia súc khác và đắt hơn cả thịt gia cầm (là loại thịt trắng). 11 Giá trị dinh dưỡng của thịt chủ yếu là nguồn prôtein. Đó là loại prôtein hoàn thiện, chứa tất cả các axit amin cần thiết cho cơ thể.
Thịt cũng chứa các thành phần khác, trong đó có mỡ [12]. Chính mỡ trong thịt làm cho nó vừa có giá trị năng lượng cao vừa góp phần tăng hương vị thơm ngon của thịt. Thành phần dinh dưỡng của thịt bò và một số vật nuôi khác Thành phần hoá học (g/100g) Loại thịt Nước Protein Mỡ Khoáng Calo Thịt bò 70,5 18 10,5 1 171 Trâu bắp 72,3 21,9 4,9 0,9 118 Lợn (1/2 nạc) 60,9 16,5 21,5 1,1 268 Thịt gà 69,2 22,4 7,5 0,9 162 (Nguồn: Nuôi trâu bò ở nông thôn và trang trại - TS. Phùng Quốc Quảng) Cung cấp phân bón cho cây trồng Phân bò là loại phân hữu cơ có khối lượng và giá trị đáng kể.
Hàng ngày, mỗi con bò trưởng thành thải ra 10-20kg phân, một năm thải ra 3-5 tấn phân nguyên chất. Ở nước ta, phân bò được sử dụng làm phân bón cho trồng trọt rất phổ biến, đáp ứng 50-70% nhu cầu phân hữu cơ trong nông nghiệp. Cung cấp sức kéo cho nông nghiệp và vận chuyển Ở nước ta, nghề nuôi bò gắn liền với nghề trồng lúa nước. Ngày nay chúng ta đang từng bước cơ giới hoá nông nghiệp, nhưng vai trò của bò trong khâu làm đất (cày, bừa) và trong nông nghiệp nói chung vẫn rất quan trọng.
Công việc nặng nhọc này thu hút khoảng 70% số bò. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2000 mức độ cơ giới hoá trong khâu làm đất tính chung cho cả nước mới đạt 34-35% (năm 1995 đạt 29%), trong đó đồng bằng sông Cửu Long mức độ cơ giới hoá bằng 66%, đồng bằng sông Hồng bằng 29% [23]. Tuy nhiên, bò cũng chưa phải là vật nuôi cung cấp sức kéo cho nông 12 nghiệp chính như trâu. Cung cấp các phụ phẩm giết mổ cho nông nghiệp và thủ công mỹ nghệ Da bò là một mặt hàng rất quan trọng để xuất khẩu cũng như để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp địa phương.
Người ta dùng da để sản xuất đế giầy, thắt lưng, yên xe, các loại đai da… Da có thể được tách thành 3 lớp: lớp ngoài cùng để sản xuất những mặt hàng cao cấp, làm áo khoác ngoài; lớp giữa làm vali và làm túi đựng áo quần, còn có dính thịt ở trong cùng để sản xuất các sản phẩm da mịn, các lớp lót trong. Da bò là nguồn nguyên liệu chủ yếu cho các nhà máy thuộc da. Đáng tiếc là ở nước ta chưa có những cơ chế và biện pháp thích hợp để thu thập nguồn nguyên liệu này. Nhiều vùng nông thôn sử dụng lãng phí da bò, dùng da bò làm thực phẩm.
Lông bò rất thích hợp để sản xuất bàn chải mỹ nghệ và lau một số máy móc quang học. Sừng bò có nhiều hình dạng khác nhau. Màu sắc cũng thay đổi. Nếu hơ nóng trên ngọn lửa, sừng bò trở nên dễ uốn theo các hình dạng khác nhau và cuối cùng được cố định trong nước lạnh.
Sừng bò được gia công chế biến cẩn thận có thể sản xuất ra nhiều mặt hàng có giá trị. Là nguyên liệu rất quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ. Từ sừng bò có thể sản xuất ra trâm cài, lược, cúc áo, các đồ trang trí, kim đan, móc áo. Đặc điểm của chăn nuôi bò thịt Chăn nuôi bò thịt là một trong những ngành sản xuất của sản xuất nông nghiệp song có những khác biệt so với sản xuất của ngành trồng trọt, nên bên cạnh những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp thì còn có những đặc điểm riêng mà cần chú ý.
Thứ nhất, đối tượng tác động của ngành chăn nuôi bò thịt là các cơ thể sống - bò thịt. Để tồn tại bò thịt luôn cần một lượng tiêu tốn thức ăn tối 13 thiểu cần thiết thường xuyên, không kể rằng các đối tượng này nằm trong quá trình sản xuất hay không. Từ đặc điểm này, đặt ra cho người sản xuất hai vấn đề: Bên cạnh việc đầu tư cơ bản cho đàn bò phải đồng thời tính tới phần đầu tư thường xuyên về thức ăn để duy trì và phát triển của đàn bò. Nếu cơ cấu đầu tư giữa 2 phần này không cân đối thì dẫn tới tình trạng dư thừa lãng phí hay sẽ làm chậm sự phát triển thậm chí phá hủy cả đàn bò.
Phải đánh giá chu kỳ sản xuất và đầu tư cho chăn nuôi một cách hợp lý trên cơ sở tính toán cân đối giữa chi phí sản xuất và sản phẩm tạo ra, giữa chi phí đầu tư xây dựng cơ bản và giá trị đào thải để lựa chọn thời điểm đào thải, lựa chọn phương thức đầu tư mới hay duy trì tái tạo phục hồi.