Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp. Thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Đăk Glong. Một số giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Đăk Glong.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Nông nghiệp là ngành sản xuất có lịch sử lâu đời, gắn liền với sự phát triển của loài người và đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Đối với Việt Nam hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, được Đảng và Nhà nước hết sức trú trọng thể hiện qua quan điểm “Phát triển nông nghiệp nông thôn là nhiệm vụ chiến lược”. Bởi vậy, từ lâu vấn đề phát triển nông nghiệp luôn được các nhà kho học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
‘Theo Arthur Lewis (1954) 6ng dua ra mô hình hai khu vực và lập luận rằng muốn phát triển nông nghiệp thì phải giải quyết lao động dư thừa trong. nông nghiệp bằng cách là dựa vào phát triển công nghiệp để dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp góp phần nâng cao năng suất lao động nông nghiệp [S, trl4-21] Nghiên cứu của PGS.Bùi Quang Bình (2012) [1] da chỉ ra sự phát triển nông nghiệp thể hiện qua các nội dung, đó là: Gia tăng quy mô sản lượng nông nghiệp; mức độ huy động vốn và hiệu quả sử dụng các nguồn lực nông nghiệp; chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp; trình độ tổ chức sản xuất nông. nghiệp; tạo việc làm và gia tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp. nông nghiệp, đất đai là một nhân tố sản xuất chiếm giữ vai trò quyết định.
Gắn liền với vai trò chủ đạo của đất đai là ảnh hưởng của thời tiết. Sự khác nhau vẻ chất lượng đắt trồng, khí hậu và nguồn nước sẵn có dẫn đến việc sản xuất lương thực khác nhau và các biện pháp đề nâng cao năng suất của một vụ khác nhau không chỉ ở các nước mà ngay giữa các tỉnh, huyện của một nước. Thạc sĩ Đỗ Thị Thu [2] trong luận văn tác giả đã phân tích cơ cấu đầu tư của huyện, trong đó đã chỉ ra các nguồn đầu tư được hình thành như đâu tư chính nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn từ các ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng chính sách và các ngân hàng thương mại khác, nguồn vốn từ các chủ thể sản xuất (nông hộ, tư nhân, doanh nghiệp, hợp tác xã). Các chủ thể được tiếp cận sử dụng nguồn vốn đầu tư.
Chính sách đầu tư đã được áp dụng, triển khai cũng như hiệu quả của các chính sách đầu tư và nguồn vốn được sử. dụng vào các hình thức sản xuất nông nghiệp như trạng trại PGS.Bùi Bá Bỗng (2004) [3] trong bài viết “Một số vấn đẻ trong phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam hiện nay và những năm tới” đã đưa ra một số giải pháp đề phát triển nông nghiệp, nông thôn là: Tiếp tục thực. hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo. hướng phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng gắn với nhu cầu thị trường; tăng.
cường tiềm lực khoa học - công nghệ và chuyền giao tiền bộ kỹ thuật; đầy mạnh thực hiện Chương trình phát triển nông thôn; xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển thị trường, hoàn thiện hệ thống tổ chức kinh doanh tiêu thụ nông lâm sản hàng hóa trong nước và xuất khẩu; hoàn thiện và đổi mới các chính sách, tiếp tục tạo động lực thúc đẩy sản xuất hàng hóa nông nghiệp phát triển; đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp - nông thôi ng cường hợp tác quốc tế và hội nhập để tăng thêm nguồn lực cho phát triển của ngành trong những năm trước mắt cũng như lâu dài TS.Đỉnh Văn Thông (2011) [4] trong bài viết “Nông nghiệp Việt Nam qua 25 năm đổi mới kinh tế (1986 - 2010)” chỉ rõ những xu hướng có tính chất quy luật trong quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế nông nghiệp: Đó là xu hướng đầu tư, thâm canh phát triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa; xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xu hướng phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững. Bài viết “Để ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển như kỳ vọng” trong tạp chí kinh tế và dự báo số 4/2013 của Th.S Nguyễn Thị Xuân thì để nâng “chất” cho ngành nông nghiệp Việt Nam thì cần phải tăng cường đầu tư phát triển nghiên cứu có chọn lọc, chuyển giao công nghệ, có chính sách bảo. hợp lý đối với nông sản, thực hiện có hiệu quả chính sách dồn điền đổi thửa, điều chỉnh nâng cao chất lượng nông nghiệp và xây dựng các đô thị ngay bên trong nông thôn [5]. “Trên báo điện tử của Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn (2013) trong bài viết “Một số vấn đề tái cơ cầu ngành nông nghiệp” đã phân tích thực trạng.
phát triển nông nghiệp trong 25 năm đổi mới”. Nêu ra một số điểm trong cơ cấu ngành nông nghiệp bao gồm: Điều chỉnh và nâng cao giá trị gia tăng của các sản nghiệp nông nghiệp hiện có, đồng thời tìm kiếm những sản nghiệp nông nghiệp mới phủ hợp, được ứng dụng công nghệ cao với giá trị gia ting lớn, có thị trường tiêu thụ ổn định [6] “Trên trang web của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2014) trong bài viết “Cần đột phá phát triển nông nghiệp”, TS.Võ Trí Thanh cho rằng, đột phá ở thể chế trong phát triển nông nghiệp có nhiều nội dung. đó cần phải có đột phá về thể chế trong tổ chức mô hình, phương thức sản xuất quy mô lớn ở những vùng có điều kiện, bên cạnh vai trò của hộ gia đình. Đột phá này sẽ khắc phục tình trạng manh mún trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục các bất cập mà sản xuất nông nghiệp quy mô hộ gia đình không, giải quyết được, đồng thời hướng đến một nền sản xuất hàng hóa nông nghiệp chuyên nghiệp, bền vững [7].
Báo điện tử, tại, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam khẳng định ứng dụng các tiến bộ KHCN trong nông nghiệp hết sức đa dạng, từ những vấn đẻ rắt lớn, rất hiện đại như biến đổi khí hậu, ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám. đến chuyện cụ thể như nuôi con gà, con vịt, trồng cây lúa. Song dù lớn hay nhỏ thì doanh nghiệp, người nông dân, nhà khoa học đều nhận thấy vai trò ngày càng quan trọng của ứng dụng KHCN để xây dựng một nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại [8] Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng đã chia sẻ một số kinh nghiệm của nông nghiệp Việt Nam trong ứng phó với BĐKH, bao gồm ï) Sản xuất lúa: 'Việt Nam đã ứng dụng, khuyến cáo người dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật thông. qua mô hình thâm canh lúa cải tiến (SRI).
Mô hình này có thể giảm tới 30%, lượng phân bón, thuốc trừ sâu nhưng năng suất tăng từ 10-20% và giảm khí thai nhà kính tới 30%; ii) Sản xuất cà phê: Cùng với tập đoàn Nestle và đối tác khác, những tiến bộ kỹ thuật trong việc trồng, chăm sóc cà phê đã được. khuyến cáo cho người dân. Mô hình này đã sử dụng tiết kiệm nước tới 30% so với phương thức canh tác truyền thống, trong khi năng suất ting 10%, thu nhập của người dân tăng 14% và giảm khí thải nhà kính tới trên 50%; iii) Lĩnh vực chăn nuôi: Chính phủ đã hỗ trợ người dân toàn quốc xây dựng hằm Biogas, do đó đã giảm đáng kể phát thải khí nhà kính; iv) Lâm nghiệp: Với hỗ trợ quốc tế Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong việc trồng và bảo vệ rừng. Độ che phủ rừng đã tăng từ dưới 30% vào đầu những năm 1990 lên tới 40,7% vào năm 2015.Để nhân rộng được các mô hình thành công nói trên, Bộ trưởng đã nhắn mạnh đến việc cần phải có sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ và của các bên liên quan (người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học.); có chính sách khuyến khích hỗ trợ người dân và các doanh nghiệp tham gia tích cực vào tiến trình này; cung cắp hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho người nghèo; và cần chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và tăng cường hợp tác quốc tế [9].
Bài viết trên báo Công thương về “Giải pháp phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Tuyên Quang”, Để hoàn thành các chỉ tiêu về phát triển công. nghiệp nông thôn, Tuyên Quang chú trọng những ngành nghề, sản phẩm, danh mục đầu tư có lợi thế: vùng nguyên liệu, sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản, phát triển thủy điện. Đặc biệt, tỉnh rất quan tâm đầu tư lĩnh vực chế biến nông, lâm sản nhằm giải quyết đầu ra cho sản xuất nông nghiệp. Một trong những giải pháp đây mạnh phát triển công nghiệp của Tuyên Quang là tập trung phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông, lâm sản gắn với vùng nguyên liệu tập trung.
Gắn kết chặt chẽ, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà máy chế biến nông, lâm sản với những hộ gia đình, đơn vị trồng. nguyên liệu, phát huy công suất của các nhà máy nhất là các nhà máy chế biến lâm sản đầu tư công nghệ hiện đại, quy mô sản xuất lớn. Tích cực đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất theo hướng hiện đại tiên tiến và sử dụng nguyên liêu chế biến sạch nhằm nâng sức cạnh tranh của sản phẩm chè, nhất là chè đặc sản, tăng khả năng tiêu thụ trên thị trường nội địa và xuất khẩu [ 10] Bài viết trên Việt Báo, theo Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng, một trong những giải pháp chủ yếu để phát triển thị trường nông sản trong thời gian tới là tiến hành nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, gồm 3 bộ phận: xúc tiến thương mại định hướng xuất khẩu, xúc tiến thương mại nội địa và xúc tiến thương mại biên giới. Đối với xúc tiến thương mại định hướng xuất khẩu, phải tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến thương mại và phát triển thị trường nước ngoài; tập trung xúc tiến thương mại tại các thị trường.
trọng điểm có kim ngạch nhập khẩu lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, một số nước EU; tập trung nguồn vốn xúc tiến thương mại đối với những mặt hàng có sự tăng trưởng, có sự đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khâu [1 1]. Ngoài những tác phẩm và tác giả đã được đề cập ở trên, có nhiều bài viết nêu lên những vấn đẻ lý luận và các nội dung cơ bản của phát triển nông. nghiệp qua các giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn của phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung và một số địa phương nói riêng.