CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tì nh nghiên cứu ở nước ngoài nh hì Trên thế giới đã có rất nhiều công trì nh nghiên cứu về các loại chè, đặc điểm sinh thái, tác dụng của chè, … Nghiên cứu về nguồn gốc cây trồng, các nhàbác học Nga N.
Cây chècónguồn gốc phát sinh từ trung tâm Trung - Ấn (Indo - China). Đây là trung tâm phát sinh cây trồng đầu tiên vàlớn nhất của thế giới. Tập trung ở đây có hơn 140 loài cây trồng khác nhau. Cho đến nay vùng nguyên sản cây chè được thống nhất gồm vùng núi rộng lớn của dãy Hymalya với triền phía Đông là Đông Nam Trung Quốc, sang phí a Nam - Tây Nam làBắc Việt Nam, Lào, Thái Lan,.
Asimov (1978), nhà tự nhiên học người Thụy Điển Carl Von Linne (1701 - 1778) đã đặt tên cho cây chè vào năm 1753 với tên Thea sinensis. Qua hơn 20 lần đổi tên, nay cây chè được gọi tên khoa học là Camellia sinensis (L. Theo hệ thống phân loại hiện đại cây chè thuộc loài sinensis, chi Chè (Camellia), họ Chè (Theaceae), bộ Chè (Theales), lớp hai lá mầm (Dicotyledonae), ngành Hạt kín (Angiospermae). Năm 1979, DiemuKhatze thuộc viện thông tấn hàn lâm Khoa học Liên Xônghiên cứu về sự tiến hóa của cây chè.
Qua việc nghiên cứu về sự tiến hóa của cây chè ông đã đưa ra được sơ đồ tiến hóa hóa sinh của cây chèthế giới. Với chiết xuất cathein từ các mẫu chècổ của Việt Nam, viện sĩ Djemukhatze đã đề xuất tên khoa học mới cho cây chè làThea wetnamia (chè gốc Việt Nam) thay cho tên khoa học Thea sinensis (chègốc Trung Hoa). Bên cạnh đó bằng những thực nghiệm đã khoa học dựa trên “thuyết tiến hóa” của nhà bác học Darwi, Djemukhatze đã có các kết quả thực nghiệm về sự hình thành và tích lũy catechin (tinh chất chè xanh) trong cây chèhoang dã ở Suối Giàng huyện Văn Chấn - tỉnh Yên Bái, đối chiếu với các vùng chè khác trên thế giới để cho ra một kết quả bất ngờ, khẳng định được gốc tích Việt Nam là “khởi thủy” của cây chèthế giới. Các nhà khoa học Nhật Bản thuộc Đại học Okayma đã công bố công trình nghiên cứu về cây chè, khi người cao tuổi thường xuyên uống nước chèxanh có thể giảm thiểu được tới 75% nguy cơ bệnh tim mạch.
Các nhàkhoa học thuộc Đại học Y Athen đã phát hiện ra rằng: chèxanh cải thiện đáng kể chức năng làm sạch tế bào màng trong niêm mạc mao mạch (sự rối loạn chức năng làmột nhân tố chí nh dẫn đến xơ vữa thành mạch). Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Rattan, P., 1979 đã nghiên nh dịch bệnh ở cây chètrồng ở Châu Phi. cứu về các biện pháp kiểm soát tình hì Năm 2002, Yotiemita Khasnabis, Chandan Rai và Arindam Roy đã nghiên cứu về thành phần hoáhọc của cây chè, đặc biệt làhợp chất Tannin. Năm 2006, các nhà nghiên cứu Nhật Bản (Đại học Tohoku) đã nêu bằng chứng khoa học khẳng định, chè có tác dụng kéo dài tuổi thọ.
So với đối tượng mỗi ngày uống ít hơn một ly chè xanh, nguy cơ tử vong (chủ yếu làdo các bệnh tim mạch) của những người mỗi ngày uống 5 ly chè(hoặc nhiều hơn) giảm thiểu 16%. Một nhóm nghiên cứu do nhà sinh vật học Colin Orians tại trường Đại học Tufts, năm 2014 nghiên cứu sự biến đổi khíhậu có ảnh hưởng như thế nào đến hàm lượng các hợp chất hóa học quy định các đặc tí nh cólợi cho sức khỏe, chất kí ch thích, cảm quan. Orians cho rằng chè xanh được biết đến bởi hàm lượng chất chống oxy hóa cao được cho là giúp ngăn ngừa hoặc kiểm soát một loạt các vấn đề sức khỏe liên quan đến tim, lượng đường trong máu vàtiêu hóa.Vìchất lượng chè được xác định bởi một loạt các chất thứ cấp phụ thuộc vào điều kiện khíhậu, biến đổi khí hậu có thể có những hậu quả nghiêm trọng đến thị trường chè. Người ta mua và uống chè vìnhững phẩm chất nhất định của loại đồ uống này.
Nếu những phẩm chất đó không còn thì họ sẽ không mua chè. Các kết quả nghiên cứu cũng có thể giúp các nhàkhoa học và người trồng chèhiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu tới các sản phẩm nông nghiệp. Chèlàmột trong những loại đồ uống được tiêu thụ rộng rãi trên thế giới. Một trong những thị trường lớn nhất của chèlàMỹ.
Các quốc gia sản xuất chè hàng đầu là Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ vàIndonesia. Ahmed trường Đại học bang Montana đã khảo sát người trồng chèở Vân Nam. Nông dân định giá chè qua độ ngọt đắng và dư vị từ vị ngọt đọng lại của chè, Ahmed cho biết. Trong nghiên cứu của nhóm, các nhànghiên cứu nhận biết được rằng người nông dân nhận thức được chất lượng chègiảm sút - điều màhọ gắn với sự khởi đầu của gió mùa.
Nhóm nghiên cứu đã nhận thấy một sự sụt giảm trong thành phần của một số hợp chất hóa học chính quy định hương vị và các đặc tính cólợi cho sức khỏe của chè. Ngoài việc nghiên cứu hàm lượng của các hợp chất quan trọng của chè, các nhà nghiên cứu sẽ khảo sát người tiêu dùng để xác định cách thức những người uống chè phản ứng lại với các loại chèchất lượng giảm. Chất lượng chègiảm đi có thể cản trở nhu cầu tiêu thụ chè, đây là điều rất quan trọng đối với những người nông dân sống phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ chè, Ahmed nói. Các nhànghiên cứu cũng sẽ xem xét cách mà người trồng chècó thể điều chỉnh phương pháp canh tác để giảm thiểu Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 những ảnh hưởng của thay đổi thời tiết.
Mohammad Ali Sahari, Davood Ataii and Manuchehr Hamedi (2004) đã nghiên cứu vàsản xuất dầu từ hạt chè. Theo FAO, 2015 cũng đã xác định môi trường sinh thái vànghiên cứu qui trình kỹ thuật trồng cây chè. Tì nh nghiên cứu trong nước nh hì Chè là cây công nghiệp lâu năm, được trồng khá phổ biến trên thế giới, tiêu biểu là một số quốc gia thuộc khu vực Châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Nước chè là thức uống có tác dụng giải khát, chống lạnh, khắc phục sự mệt mỏi của cơ thể, kích thích hoạt động của hệ thần kinh, hệ tiêu hóa và chữa một số bệnh đường ruột. Chính vì những đặc tính ưu việt trên chè đã trở thành một đồ uống phổ thông với nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng trên toàn thế giới.
Đây chính là lợi thế tạo điều kiện cho việc sản xuất chè ngày càng phát triển. Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển. Lịch sử trồng chè của nước ta đã có từ lâu, cây chè cho năng suất sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế, tạo việc làm cũng như thu nhập hàng năm cho người lao động, đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi. Với ưu thế là một cây công nghiệp dễ khai thác, nguồn sản phẩm đang có nhu cầu về xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.
Cây chè được trồng chủ yếu ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc như: Thái Nguyên, Sơn La, Phú Thọ, Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, … Nhiều vùng chècho năng suất cao vàchất lượng tốt, nổi tiếng trong nước như: Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La), Bảo Lộc (Lâm Đồng)… Các sản phẩm chèngày càng đa dạng, phong phúvề chủng loại, đảm bảo phục vụ nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng trong và ngoài nước như: chè Sao Lăn, chè Xanh, chè Ô Long, chè Hương, chè Thảo Dược,. Phát triển ngành trồng chèmang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người dân. Ở Việt Nam đã có nghiên cứu cây chè về đặc điểm thực vật học; điều kiện sinh thái, kỹ thuật trồng và chăm sóc cũng như kỹ thuật chế biến, bảo quản chè và tiêu thụ chè. Năm 1993, Tiến sĩ của Nguyễn Hữu Tài đã nghiên cứu về vấn đề giao đất và tư liệu sản xuất cho hộ gia đình trồng chè.
Năm 1997, Nghiên cứu đặc điểm của một số giống chè mới trong điều kiện Bắc Thái và những biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý cho những giống chè có triển vọng. Những vấn đề kinh tế phát triển cây chè ở Thái Nguyên của Phạm Thị Lý (2001) hay những giải pháp tăng cường mối quan hệ hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ chè ở vùng chè trọng điểm tỉnh Thái Nguyên của Trần Quang Huy (2010). Tạ Thị Thanh Huyền, 2011 đã nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất chè ở vùng Đông bắc Bắc Bộ theo hướng phát triển bền vững. Trần Quang Huy, 2010 nghiên cứu Những giải pháp tăng cường mối quan hệ hợp tác trong Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 sản xuất và tiêu thụ chè ở vùng chè trọng điểm tỉnh Thái Nguyên.
Năm 2011, Phạm Văn Quân đã nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất, chất lượng chè ở tỉnh Thái Nguyên. Đặc điểm sinh vật học của cây chè Cây chè hay cây trà có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè. Chè là 1 thức uống lý tưởng có nhiều giá trị về dược liệu. Chè là 1 cây công nghiệp lâu năm cho giá trị kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm.
Do đó, chè là 1 trong những cây trồng được quan tâm và phát triển mạnh đặc biệt là ở vùng trung du và miền núi. * Cây chè nằm trong hệ thống phân loại thực vật sau: - Ngành hạt kín: Angiosepermae. - Lớp 2 lá mầm: Dicotyleonae. - Bộ chè: Theales.
- Họ chè: Theaceae. - Chi chè: Camellia (Thea). - Loài Camelliasinensis * Thân và cành Chè chỉ có một thân chính và sau đó mới phân ra các cấp cành. Do hình dạng phân cành khác nhau nên người ta chia thân chè ra làm 3 loại: Thân gỗ, thân bán gỗ và thân bụi.
Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành. Trên cành chia làm nhiều đốt. Từ thân chính cành chè được chia ra làm nhiều cấp: I, II, III. Thân và cành chè đã tạo nên khung tán của cây chè.
Số lượng cành thích hợp và cân đối trên khung tán, chè sẽ cho sản lượng cao * Mầm chè - Mầm sinh dưỡng: phát triển thành cành lá. - Mầm sinh thực: nằm ở nách lá. Bình thường ở mỗi nách lá có 2 mầm sinh thực hoặc nhiều hơn và khi đó ở nách lá sẽ có một chùm hoa. * Búp chè Là một đoạn non của 1 cành chè.