CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỐT HỞ RƠM RẠ 1. Đốt hở rơm rạ trên thế giới và Việt Nam Cây trồng đặc biệt là rơm rạ là nhiên liệu được sử dụng lâu đời trên thế giới. Hiện nay, rơm rạ là nguồn năng lượng lớn đứng thứ tư sau than, dầu, khí tự nhiên [7]. Có khoảng một nửa dân số thế giới sử dụng nguồn nhiên liệu này cho các hoạt động hàng ngày đặc biệt ở các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, với sự phát triển kinh tế, nguồn nhiên liệu này ngày càng ít được sử dụng cho các hoạt động sống. Như tại Trung Quốc, trước năm 1979 mức độ sử dụng nhiên liệu này lên đến 70% tại các vùng nông thôn [7] nhưng hiện nay số lượng đã giảm xuống khoảng 50% (tính đến năm 2011). Tại Việt Nam chưa có số liệu thống kê đầy đủ, nhưng qua kết quả điều tra trong khuôn khổ nghiên cứu này cho thấy, tỉ lệ sử dụng rơm rạ cũng giảm dần tại các vùng trồng nông nghiệp, điều này đã tạo ra một lượng lớn rơm rạ tồn dư sau vụ mùa. Ở một số nơi, nông dân vùi rơm rạ trong đất để gia tăng chất dinh dưỡng tuy nhiên trong thành phần của rơm rạ chứa lượng lớn silic dioxit (SiO2 ) dẫn đến khó phân hủy trong đất, giảm năng suất cây trồng do sự phân hủy R R chậm, sinh ra các khí độc hại tồn lưu trong đất, cây trồng không phát triển và chết.
Do đó, chúng được đốt ngay tại đồng sau khi thu hoạch. Theo thống kê, Châu Á được coi là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất lục địa, chiếm 60-90% dân số làm nông nghiệp của thế giới và đóng góp khoảng 80- 90% sản lượng gạo và chè của thế giới [16] với tỉ lệ sản xuất hàng năm không ngừng gia tăng. Chính vì vậy, châu Á đang phải đối mặt với ô nhiễm không khí, nóng lên toàn cầu do hoạt động sản xuất nông nghiệp và cụ thể là vấn đề đốt hở rơm rạ sau thu hoạch ngày càng phổ biến. Hoạt động này phát thải một lượng lớn các chất ô nhiễm không khí, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và biến đổi khí hậu.
Tại Việt Nam, lúa gạo là sản phẩm chính với tổng diện tích gieo trồng năm 2010 là 7513,7 nghìn ha [3] và tỉ lệ đốt rơm rạ tại đồng ngày càng gia tăng trong những năm gần đây. Theo kết quả khảo sát tại huyện Thanh Trì - Hà Nội, hơn 90% 2 diện tích cánh đồng bị đốt sau khi thu hoạch trong hai vụ chính là: vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu. Đây cũng là thực trạng chung của các huyện khác tại miền Bắc trong những năm gần đây. Như vậy, có thể thấy rằng đốt hở rơm rạ có những thuận lợi như hiệu quả xử lý rơm cao và nhanh chóng, không tốn kém, phù hợp những vùng có công cụ sản xuất thủ công, sử dụng ít nhân công lao động, giảm được các sâu hại, dịch bệnh.
Tuy nhiên, đốt hở rơm rạ sẽ phát sinh một lượng lớn các chất ô nhiễm được phát ra bao gồm cả các khí độc CO, VOC, PAH và bụi xảy ra quá trình cháy không hoàn toàn. Nguyên nhân chủ yếu do rơm rạ thường được tập trung tại những đống to, độ ẩm của rơm cao. Vì vậy, khói thải từ đốt hở rơm rạ là nguồn có khả năng gây độc hại. Sau khi phát thải vào khí quyển, các chất ô nhiễm phân tán đến các khu vực xung quanh (hoặc lan truyền đi xa hơn) và có thể trải qua các quá trình chuyển đổi hóa - lý khác nhau, tạo thành các chất ô nhiễm thứ cấp, ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe con người.
Đốt hở rơm rạ đã làm gia tăng tỉ lệ mắc bệnh hen suyễn ở trẻ em tại Nhật Bản [16] và ảnh hưởng sức khỏe con người khi hít phải khói chứa sợi silic hữu cơ phát ra từ đốt rơm [11]. Hiện nay chưa có các nghiên cứu cũng như báo cáo được công bố về các ảnh hưởng đến con người do hít khói rơm rạ một cách chi tiết. Ngoài ra, việc đốt hở rơm rạ cùng với các phụ phẩm nông nghiệp khác ở nhiều nước châu Á với số lượng lớn có thể đóng góp vào sự hình thành của “mây nâu châu Á”, ảnh hưởng đến chất lượng không khí, tầm nhìn và khí hậu. Lượng khí thải từ đốt hở rơm rạ mang lại những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và việc đánh giá tác động của đốt hở rơm rạ đến chất lượng không khí là việc khó khăn bởi việc đốt hở rơm rạ thường được thực hiện ngay tại cánh đồng sau khi gặt, lượng khói khó phát tán lên cao; xảy ra trên diện rộng (nguồn diện), khó tiếp cận và khó kiểm soát phát thải như các nguồn đốt khác (nguồn điểm), không phân bố thời gian đều trong cả năm, thay vào đó, quá trình đốt hở thường chỉ xảy ra trong thời gian ngắn và không thường xuyên, phụ thuộc vào vụ mùa, khu vực.
Sự hình thành của các chất ô nhiễm do đốt rơm rạ Đốt rơm rạ là một trong những nguyên nhân góp phần phát thải các khí như: CO2 , CO, NO, NO 2, SO 2 và bụi gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Sự hình R R R R R R thành các khí phụ thuộc khá nhiều vào lượng oxy cấp vào nghĩa là sự tiếp xúc giữa chất đốt và oxy không khí. Nếu chất đốt và oxy không khí không được tiếp xúc và hòa trộn vào nhau thì lượng oxy không đủ để quá trình cháy xảy ra hoàn toàn vì một số vùng cháy sẽ thiếu khí. Nội dung sau đây sẽ trình bày cơ chế hình thành các khí, bụi trong quá trình đốt rơm.
Bụi Trong quá trình đốt, có khoảng 90% cacbon trong rơm rạ chuyển thành CO và CO2 và một lượng nhỏ hơn 5% C ở lại trong bụi [16]. Quá trình cháy có thể hình R R thành bụi ở cả dạng rắn và lỏng. Quá trình hình thành bụi trong ngọn lửa bắt đầu bằng cách hình thành các nhân ngưng tụ [16] hoặc hình thành từ các hạt vô cơ không cháy chứa trong chất đốt, chúng sẽ kết hợp với các hạt bụi bên cạnh, dẫn đến hình thành các hạt bụi có kích thước lớn hơn [9]. Mối quan hệ giữa quá trình biến đổi của nhiên liệu trong môi trường cháy và sự hình thành bụi rất phức tạp.
Một số nghiên cứu đã cho thấy, lượng bụi sinh ra trong quá trình đốt tỉ lệ thuận với ngọn lửa và tỉ lệ nghịch với lượng oxy chứa trong chất đốt. Cường độ cháy của ngọn lửa tăng sẽ làm giảm lượng oxy di chuyển vào trong các khu vực bên trong ngọn lửa, làm gia tăng kích thước và lượng bụi [16]. Quá trình cháy âm ỉ bắt đầu khi hầu hết các chất bay hơi bị giải phóng khỏi các chất đốt chứa xenlulo. Thực chất, cháy âm ỉ là quá trình cháy bề mặt, oxy không khí khuếch tán đến bề mặt và phản ứng tỏa nhiệt với cacbon ở nhiệt độ cao hơn 4370 C P P (7100 K).
Bụi hình thành bằng cách ngưng tụ các chất hữu cơ bay hơi trên các nhân P P ngưng tụ [16]. Đây là nguyên lý cơ bản sự hình thành bụi từ quá trình đốt rơm rạ. Ngoài ra, theo [9] bụi sinh ra trong quá trình cháy cũng được giải thích như sau: dưới tác động của nhiệt độ cao, cấu trúc của chất đốt bị phá vỡ và trở nên xốp hơn do xảy ra hiện tượng ứng suất nhiệt tạo các mảnh vỡ, bụi có kích thước bé, nhẹ dễ bị cuốn theo dòng khí ra ngoài. Các oxit cacbon (CO và CO2) Việc kết hợp của oxy trong không khí và cacbon trong nhiên liệu để tạo ra CO2 là một quá trình phức tạp đòi hỏi diện tích tiếp xúc, nhiệt độ đủ lớn và thời R R gian đủ dài để quá trình cháy xảy ra.
Trường hợp quá trình cháy không kiểm soát được thì một lượng đáng kể các khí ô nhiễm khác hình thành như CO, NO, NO 2 , R R SO2 , bụi PM. R R CO và CO2 được hình thành thông qua phản ứng giữa chất đốt và oxy không R R khí ở nhiệt độ cao [9], [9, 14]. Cx Hy + ( + )O 2 ↔ xCO 2 + H2 O R R R R R R R R R R Hoặc khi quá trình cháy xảy ra không hoàn toàn (thiếu oxy) : C xH y + ( + )O2 ↔ xCO + H2O R R R R R R R R CO + 0,5O2 ↔ CO2 R R R Mối quan hệ giữa lượng oxy cấp vào và nồng độ CO2 và CO trong khí thải R R được trình bày trong Hình 1. Quá trình cháy có hai trường hợp xảy ra: một là hòa trộn tốt và một là hòa trộn kém.
Trường hợp oxy dư, tất cả CO và H2 sẽ phản ứng R R hết ngay cả đối với trường hợp sự hòa trộn không tốt [14]. Khi mức độ oxy gia tăng và đạt một giá trị nhất định, nồng độ CO, H2 giảm nhanh và khi chúng nhận thêm R R oxy nguyên tử để chuyển thành CO 2. Tại đây, giá trị CO 2 đạt cực đại. Sau đó, R R R R không khí bắt đầu pha loãng điều này dẫn đến nồng độ CO2 giảm xuống.
Lưu huỳnh dioxit (SO2) Trong quá trình đốt cháy nhiên liệu, lưu huỳnh sẽ bị oxy hóa thành SO 2. R R Sunfid chủ yếu là H2 S và COS có thể tồn tại trong vùng giàu nhiên liệu. Tất cả các R R chất này được coi là chất ô nhiễm trong khí thải. Một phần SO2 bị oxy hóa thành R R SO3 , tuy nhiên quá trình này diễn ra chậm.
R R SO 2 + 0,5O 2 ↔ SO 3 R R R R R 5 Nguồn: [14] Hình 1: Ảnh hưởng của tỉ lệ không khí - chất đốt đến thành phần khí 1. Các oxit nitơ (NOx) Oxit nitơ NOx (gồm NO và NO2 ) hình thành từ phản ứng oxy hóa N 2 và O2 , R R R R R R trong quá trình cháy NO chiếm tỉ lệ cao trong các oxit nitơ. Trong quá trình cháy, NOx được hình thành thông qua 2 phản ứng hóa học sau [14]: N2 + O 2 ↔ 2NO R R R R NO + 0,5O2 ↔ NO 2 R R R Cả hai phản ứng hóa học trên là phản ứng thuận nghịch, vì thế chúng sẽ đạt trạng thái cân bằng nhất định và chịu ảnh hưởng của nồng độ, nhiệt độ cháy và áp suất. Trong quá trình cháy NOx được tìm thấy thông qua 3 cơ chế: nhiệt, tức thì và nhiên liệu.
NOx nhiệt là loại quan trọng nhất (xem Hình 2).