phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phát triển sản phẩm bưởi da xanh theo hướng bền vững Chương 2: Thực trạng phát triển sản phẩm bưởi da xanh trên địa bàn tỉnh Bến Tre theo hướng bền vững. Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm bưởi da xanh trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến 2025, tầm nhìn 2030. 13 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN BƯỞI DA XANH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Các khái niệm liên quan đến lý thuyết phát triển sản phẩm bưởi da xanh bền vững 1.
Khái niệm phát triển Trịnh Đình Bảy và Nguyễn Thị Mạc (2003) với Giáo trình triết học Mác - Lê Nin cho rằng phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng là sự vận động đi lên cái mới, cái mới ra đời và thay thế cái cũ, nhưng ở trình độ cao hơn, hoàn thiện hơn [1, tr. Theo Trịnh Đình Bảy và Nguyễn Thị Mạc (2003), phát triển được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội. Bất kỳ quốc gia, dân tộc nào và ở bất kỳ thời đại nào cũng phấn đấu vì mục tiêu phát triển.
Phát triển được hiểu là một quá trình tăng tiến về mọi mặt trong một thời kỳ nhất định, tạo điều kiện tốt nhất cho con người tiến bộ, có cuộc sống thịnh vượng và tốt đẹp hơn, được hưởng những thành tựu về văn hóa và tinh thần, có đủ tài nguyên cho một cuộc sống sung túc, được sống trong một môi trường trong lành, được hưởng các quyền cơ bản của con người và được bảo đảm an ninh, an toàn, không bạo lực [1, tr. Theo Giáo trình Kinh tế phát triển của tác giả Trần Văn Chử (2002), đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến phát triển dưới các góc độ khác nhau của nhiều tác giả trong và ngoài nước, qua thời gian, khái niệm về phát triển đã đi đến thống nhất: “Phát triển bao gồm cả những thuộc tính quan trọng có liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị, quyền tự do về công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với Nhà nước. Phát triển là nâng cao các tiêu chuẩn của cuộc sống, hạnh phúc của nhân dân, cải thiện sức khoẻ, giáo dục, bình đẳng về cơ hội. tất cả những điều đó là phần cốt yếu của sự phát triển” [3, tr.
Khái niệm phát triển bền vững Theo Trần Văn Chử (2002), phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu 14 đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường [3]. Theo Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam (Luật số 55/2014/QH13): “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” [15, tr. Nguyên tắc phát triển bền vững: Theo Trần Văn Chử (2002), nguyên tắc phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời ba nội dung phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, văn hoá đa dạng, môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững. Khái niệm phát triển bền vững được xây dựng trên một nguyên tắc chung của sự tiến bộ loài người - nguyên tắc bảo đảm sự bình đẳng giữa các thế hệ [3].
Theo Đỗ Phú Hải (2018) Liên hợp quốc thống nhất khái niệm về phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Đó là sự phát triển luôn giữ được sự kết hợp cân đối, hài hòa trên cả 3 trụ cột phát triển về kinh tế, xã hội và sinh thái/tài nguyên, môi trường [9, tr. Khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững Trong những năm gần đây thuật ngữ phát triển bền vững trong nông nghiệp có những cách gọi khác nhau: “phát triển bền vững nông nghiệp”, “phát triển nông nghiệp bền vững” hay “nông nghiệp bền vững”, “ nông nghiệp hữu cơ”, nhưng tùy thuộc vào quan niệm khác nhau mà các nhà kinh tế đưa ra các khái niệm khác nhau: Theo tổ chức Sinh thái và Môi trường thế giới (WORD) thì nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp thỏa mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện nay mà không giảm khả năng đó đối với các thế hệ mai sau. Điều đó có nghĩa là nền nông nghiệp không những cho phép các thế hệ hiện nay khai thác tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của họ mà còn duy trì được khả năng ấy cho các thế hệ mai sau.
Nông nghiệp bền vững là khả năng duy trì hay tăng thêm năng suất và sản lượng nông sản trong một thời gian dài mà không ảnh hưởng xấu đến điều kiện sinh thái. Như vậy nền nông nghiệp bền vững phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản là: đảm bảo nhu cầu nông sản cho con người hiện nay và duy trì được tài nguyên thiên nhiên cho các 15 thế hệ mai sau, bao gồm gìn giữ được quỹ đất, quỹ nước, quỹ rừng, không khí và tính đa dạng sinh học … [21, tr. Theo Nguyễn Văn Mấn và Trịnh Văn Thịnh (2002), nông nghiệp bền vững chủ trương bảo vệ môi trường tạo dựng một môi trường trong lành, và sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người và không làm hủy diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường, rất quan tâm đến bảo đảm công bằng xã hội và việc bảo đảm văn hóa dân tộc [13, tr.
Nguyễn Văn Mấn và Trịnh Văn Thịnh (2002), cho rằng nông nghiệp bền vững dựa vào: Sự khảo sát các hệ sinh thái tự nhiên; Kinh nghiệm quý báu của những hệ canh tác truyền thống và của nông dân các vùng; Những kiến thức khoa học hiện đại. Nông nghiệp bền vững tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp sản xuất lương thực, thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi nhiều hơn so với hệ thống tự nhiên. Nông nghiệp bền vững là một hệ thống trong đó con người tồn tại và sử dụng những nguồn năng lượng không độc hại, tiết kiệm và tái sinh năng lượng, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không liên tục phá hại nguồn tài nguyên đó. Nông nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã có trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái [13, tr.
Khái niệm bưởi và bưởi da xanh Theo Vũ Công Hậu (1996), Bưởi là một loại cây cho quả có tên khoa học là Citrus maxima Burm. Merr, thuộc chi Citrus, nhóm Cam quýt, họ Rutaceae, là loại cây trồng lâu đời và phân bố rộng khắp từ Bắc đến Nam. Quả bưởi có màu xanh lục nhạt cho tới vàng khi chín, múi dày, tép xốp, vị ngọt hoặc chua ngọt. Bưởi chia làm hai loại chính là bưởi đơn và bưởi chùm.
Tuy nhiên nhiều từ điển ở Việt Nam dịch bưởi ra thành grapefruit, đây là tên gọi bằng tiếng Anh của bưởi chùm (Citrus paradisi), là loại cây lai giữa bưởi và cam, có quả nhỏ hơn, vỏ giống cam, mùi bưởi, ruột màu hồng, vị chua hơi đắng. Nguồn gốc của cây bưởi xuất phát từ vùng Đông Dương và các nước Đông Nam Á khác, hiện nay cây bưởi được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Trung Quốc và các nước Đông Nam Á [10]. 16 Bưởi có giá trị cao về mặt dinh dưỡng và y học, vỏ quả bưởi có chứa một lượng cao bioflavonoid giúp phát hiện và ngăn chặn các tế bào ung thư. Nước ép bưởi có phản ứng với kiềm sau khi tiêu hóa nên có lợi cho hệ tiêu hóa.
Thành phần vitamin C trong bưởi giúp tăng cường và duy trì độ đàn hồi của động mạch, tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, bảo vệ cơ thể chống lại stress, bưởi giúp đốt cháy các chất béo, các enzyme trong bưởi có thể giúp hấp thụ và làm giảm tinh bột và đường trong cơ thể, trợ giúp trong quá trình giảm cân. Những giống bưởi thương phẩm nổi tiếng hiện nay như: Bưởi Diễn ở Hà Nội, quả hình tròn, trọng lượng khoảng 1kg khi chín có màu vàng, múi bưởi dày, mọng nước, vị ngọt thanh mát; Bưởi Đoan Hùng là một giống bưởi ở miền Bắc và là một đặc sản tại Phú Thọ, quả hình cầu hơi dẹt, khi chín vỏ màu vàng sáng, múi màu trắng ngà, vị ngọt lịm; Bưởi Phúc Trạch là giống bưởi đặc sản của Hà Tĩnh, quả có dạng hình cầu tròn, khi chín màu vàng vàng nhạt, trọng lượng đến 2kg, múi bưởi có màu hồng nhạt, vị ngọt đậm và thanh nhẹ; Bưởi Luận Văn có nguồn gốc tại làng Luận Văn, xã Thọ Xương, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, giống bưởi này nổi tiếng vì là sản vật tiến vua thời hậu Lê, hương thơm đặc trưng, quả hình bầu dục, trọng lượng trung bình khi trưởng thành khoảng 1,2kg, khi chín màu đỏ hồng. Giống bưởi Tân Triều trồng nhiều ở Đồng Nai, còn gọi là bưởi Đường lá cam, quả to dạng quả lê khi chín có màu xanh vàng, hương thơm dịu, vị hơi chua ngọt; Bưởi Năm roi được trồng tại các tỉnh Vĩnh Long, quả có dạng hình tháp đáy rộng với trọng lượng trung bình khoảng 1.5kg/quả, khi chín quả có màu vàng nhạt, vỏ mỏng, nhiều nước, vị ngọt, hơi chua thanh; BDX được trồng phổ biến nhất ở tỉnh Bến Tre và trồng rải rác ở nhiều tỉnh khác, quả hình cầu, khi trưởng thành nặng 2kg đến 2,5kg, vỏ màu xanh, lúc chín chuyển sang hơi vàng, múi bưởi màu hồng đỏ, mùi thơm, vị ngọt. Bưởi da xanh Bến Tre thuộc dòng bưởi đơn, tiếng anh là Pomelo hoặc Pink Pomelo có kích thước và trọng lượng khá lớn.