phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng, gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững làng nghề Chƣơng 2: Thực trạng phát triển bền vững làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ Chƣơng 3: Giải pháp phát triển bền vững làng nghề đồ gỗ Đồng Kỵ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ 1. Những vấn đề cơ bản về làng nghề 1. Khái niệm về làng nghề Làng là khu vực địa lý, không gian lãnh thổ nhất định, mà ở đó tồn tại những tập hợp cƣ dân cùng sinh sống, sản xuất và giữa họ có mối quan hệ khăng khít với nhau. “Nghề” trong cụm từ “LN” là khái niệm chỉ các hoạt động SXKD phi nông nghiệp diễn ra tại khu vực nông thôn mà lao động trong các nghề này thƣờng đƣợc tách ra từ nông nghiệp với mục tiêu tăng thu nhập.
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về LN. Có quan niệm cho rằng: “LN là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề ấy, lấy nó làm nghề sống chủ yếu”. Với quan niệm này, LN hiện nay không còn nhiều. Có quan niệm lại cho rằng:“LN là làng có làm nghề thủ công nhưng không nhất thiết tất cả dân làng đều làm nghề”.
Với quan niệm này, rất khó xác định thế nào là LN, bởi vì hầu nhƣ ở các làng, xã nƣớc ta đều có nghề thủ công. Đề tài Khảo sát một số LNTT - chính sách và giải pháp (1996) của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học quan niệm: “LN là một cộng đồng dân cư, một cộng đồng sản xuất nghề TTCN và nông nghiệp ở nông thôn”. Quan niệm này mới nêu về mặt định tính, mà chƣa nêu đƣợc mặt định lƣợng của LN. Trần Quốc Vƣợng quan niệm: “LN là làng tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một số nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, có phó cả,.
cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công” [16, tr. Quan niệm này chƣa phù hợp với LN mới. Trải qua nhiều bƣớc phát triển, đến nay LN không còn bó hẹp trong khuôn khổ công nghệ thủ công, mà một số công đoạn đã đƣợc cơ khí hóa hoặc bán cơ khí hóa và trong các LN, không chỉ có các CSSX hàng thủ công, mà đã có những cơ sở dịch vụ và ngành nghề phục vụ cho sản xuất. Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển 6 nông thôn đã ban hành Thông tƣ số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, LN, LNTT.
Cụ thể nhƣ sau: - Nghề truyền thống là nghề đã đƣợc hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, đƣợc lƣu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Nghề đƣợc công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí: (i) nghề đã xuất hiện tại địa phƣơng từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (ii) nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; (iii) nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của LN. - LN là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. LN đƣợc công nhận phải đạt 03 tiêu chí: (i) có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; (ii) hoạt động SXKD ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (iii) chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.
- LNTT là LN có nghề truyền thống đƣợc hình thành từ lâu đời. LNTT đƣợc công nhận phải đạt tiêu chí LN và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tƣ này. Đối với những làng chƣa đạt tiêu chí công nhận LN (theo tiêu chí (i) và (ii) trên đây) nhƣng có ít nhất một nghề truyền thống đƣợc công nhận theo quy định của Thông tƣ này thì cũng đƣợc công nhận là LNTT. Dựa vào những quan niệm khác nhau về LN cũng nhƣ Thông tƣ quy định nêu trên, ta có thể đƣa ra khái niệm chung về LN nhƣ sau: LN là một cụm dân cư sinh sống trong một làng, thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc,.(gọi chung là làng) có hoạt động SXKD các ngành nghề ở từng hộ gia đình hoặc các cơ sở trong làng, sử dụng các nguồn lực trong và ngoài địa phương sản xuất và kinh doanh một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau, phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của một bộ phận người dân trong làng.
Về mặt định lƣợng, LN là làng có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề (thu nhập từ LN chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ); đồng thời, giá trị sản lƣợng của ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lƣợng của địa phƣơng. Phân loại làng nghề Có nhiều cách phân loại LN tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu: a. Phân loại theo lịch sử hình thành và phát triển của các làng nghề Ngƣời ta chia LN thành LNTT và LN mới.
Đây là cách phân loại phổ biến, hay dùng nhất, trong đó: LNTT là những LN thỏa mãn các điều kiện mà Thông tƣ 116/2006/TT-BNN quy định [1, tr. LN mới là những LN mới hình thành, đặc biệt từ năm 1986 đến nay. Phân loại theo số lượng nghề của làng Ngƣời ta chia LN thành làng một nghề và làng nhiều nghề. Làng một nghề là làng mà ngoài nghề nông có thêm một nghề thủ công chiếm ƣu thế tuyệt đối.
Làng nhiều nghề là làng mà ngoài nghề nông có từ hai nghề thủ công trở lên, hay vừa có thêm nghề thủ công vừa có nghề dịch vụ khác. Phân loại theo ngành nghề Ngƣời ta chia LN thành LN chế biến lƣơng thực, LN gốm sứ, LN rèn, LN sản xuất vật liệu xây dựng, LN dệt, LN ƣơm tơ, LN sản xuất đồ gỗ,. Đặc điểm chung của các làng nghề truyền thống Việt Nam a. Luôn gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của ngƣời nông dân, các LN xuất hiện trong các làng xã ở nông thôn với vai trò là các nghề phụ trong các hộ gia đình.
Sau đó, các nghề TTCN đƣợc tách dần nhƣng không rời khỏi, mà gắn liền với SXNN. Các LN tồn tại song song cùng với hoạt động SXNN, đáp ứng các nhu cầu cơ bản và thiết yếu của ngƣời dân. Bên cạnh đó, hoạt động SXNN lại cung cấp nguồn nguyên liệu phục vụ cho các ngành nghề nông thôn. Vì vậy, LN là một yếu tố không thể tách rời với làng quê và hoạt động SXNN.
Có sản phẩm thủ công truyền thống độc đáo, có tính thẩm mỹ cao, mang đậm bản sắc văn hóa địa phương Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phƣơng pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật, mang tính cá biệt và có sắc thái riêng của mỗi LN. Ví dụ, cũng 8 là đồ gốm, nhƣng có thể phân biệt đƣợc gốm Phù Lãng (Bắc Ninh) với gốm Thổ Hà (Bắc Giang) và gốm Bát Tràng (Hà Nội),.; bởi chúng mang đặc điểm riêng của mỗi vùng quê. Có thị trường tiêu thụ tại chỗ Sự ra đời của các LN là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phƣơng. Ngày nay phạm vi hoạt động kinh doanh của các LN đã mở rộng ra phạm vi quốc gia; một số LN đã chủ động tổ chức xuất khẩu sản phẩm của mình ra nƣớc ngoài.
Công nghệ sản xuất lạc hậu là chủ yếu nhưng ngày nay đã kết hợp với công nghệ hiện đại Công cụ lao động trong các LN thƣờng thô sơ; kỹ thuật sản xuất dựa vào bàn tay khéo léo của ngƣời thợ thủ công là chính. Hiện nay, sự kết hợp giữa công nghệ thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại đã đƣợc áp dụng tƣơng đối phổ biến, góp phần làm tăng NSLĐ. Song nhìn chung, phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các LN ở nông thôn còn lạc hậu. Do đó, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng và sức cạnh tranh thấp.1: Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay Trình độ Chế biến Thủ công mỹ Các Các nông lâm nghệ và vật ngành ngành kỹ thuật (%) thủy sản liệu xây dựng dịch vụ khác Thủ công bán 61,51 70,69 43,90 59,44 cơ khí Cơ khí 38,49 29,31 56,10 40,56 Tự động hóa 0 0 0 0 (Nguồn: Đặng Kim Chi, 2005) e.
Nguyên liệu sản xuất chủ yếu có tại địa phương hoặc vùng lân cận Nguyên liệu sản xuất chủ yếu của các LN thƣờng có sẵn tại chỗ, đặc biệt là những LN sản xuất sản phẩm tiêu dùng nhƣ mây tre đan, chế biến lƣơng thực, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng. Ngày nay, cùng với sự phát triển và hội nhập, nhu 9 cầu nguyên liệu lớn, nguồn nguyên liệu tại chỗ của một số LN không đáp ứng đƣợc hoặc không có để đáp ứng, nên phƣơng thức cung ứng nguyên liệu cũng có sự thay đổi: từ việc thu gom ở các địa phƣơng khác, đến việc nhập khẩu từ nƣớc ngoài. Lao động trong các làng nghề phổ biến là lao động thủ công, phương pháp dạy nghề theo phương thức truyền nghề Hiện nay, lao động của các LN không chỉ bó hẹp trong phạm vi từng gia đình, dòng họ trong làng mà việc thuê mƣớn lao động đã phổ biến, hình thành thị trƣờng lao động. Lao động trong các LN trƣớc đây đƣợc dạy theo phƣơng thức truyền thống trong các gia đình tại phạm vi từng làng từ đời này sang đời khác.
Hiện nay, nhiều cơ sở kinh tế nhà nƣớc, HTX làm nghề truyền thống đã tổ chức các lớp dạy nghề tập trung. Ngày nay, việc phát triển mạnh kinh tế tƣ nhân và hộ gia đình đã phục hồi phƣơng thức dạy nghề theo cách truyền nghề, thợ cả kèm cặp thợ phụ và thợ học việc.