Chương 1. Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về phát triển làng nghề theo hướng bền vững Chương 2. Thực trạng phát triển làng nghề theo hướng bền vững ở tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2008 đến nay Chương 3. Định hướng và giải pháp phát triển các làng nghề ở tỉnh Hà Tĩnh theo hướng bền vững 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƢỚNG BỀN VỮNG 1.
Làng nghề và vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế-xã hội 1. Khái niệm và phân loại làng nghề 1.1 Khái niệm làng nghề Làng nghề được cấu tạo bởi hai yếu tố là “làng” và “nghề”. Vì thế khái niệm về làng nghề cũng được hiểu thông qua phân tích khái niệm “làng” và “nghề”. Làng - theo Từ điển tiếng Việt, là một khối người quần tụ ở một nơi nhất định trong nông thôn.
Làng là một tế bào xã hội của người Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất. Hiện nay, do tác động của quá trình đô thị hóa, khái niệm làng có thể được hiểu một cách tương đối. Có một số cách gọi khác với làng đó là phố, khối phố, tổ dân phố, khóm.
Tuy là cách gọi có thể khác đi nhưng về bản chất của cộng đồng dân cư đó nếu gắn với nông thôn thì vẫn được xem như là làng. Như vậy, làng nghề là một làng ở nông thôn nhưng ngoài việc làm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) còn có hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, sản phẩm làm ra của họ ngoài việc đáp ứng nhu cầu bản thân, gia đình còn dùng để trao đổi, buôn bán, sản phẩm từ làng nghề phải là hàng hóa. Còn “nghề” có thể được hiểu là công việc mà người dân làm để kiếm sống hàng ngày. Các nghề trong hoạt động của làng nghề thường là thủ công, tiểu thủ công nghiệp, vì thế những sản phẩm làm ra luôn mang đậm dấu ấn của chủ nhân làm ra nó.
Các nghề thủ công ở làng quê ban đầu chỉ xuất hiện dưới dạng là nghề phụ, chủ yếu được bà con nông dân làm vào thời kỳ nông nhàn. Nhưng sau 8 này, do sự phân công lao động mà các ngành nghề thủ công tách dần khỏi sản xuất nông nghiệp nhưng vẫn phục vụ trực tiếp cho hoạt động nông nghiệp. Và lúc đó, những người thợ thủ công ở làng nghề có thể là không còn làm nông nghiệp nhưng họ vẫn gắn liền với làng quê mình. Cho tới khi nghề thủ công phát triển mạnh, những người làm nghề thủ công và sống nhờ nghề này tăng lên nhanh chóng.
Đó chính là cơ sở cho sự ra đời và tồn tại của các làng nghề ở nông thôn cho đến ngày nay. Thông qua những lí luận đó mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về làng nghề như: - “Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng), cùng làm một nghề tiểu thủ công nghiệp mà các hộ đó có thể sinh sống bằng nghề đó, thu nhập từ nghề đó chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ. Ngoài ra giá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương” [30, tr. - “Làng nghề là nơi hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động nghề cho nghề đó và lấy đó làm nguồn sống chủ yếu” [2, tr.
Với quan niệm như thế thì hiện nay ở Việt Nam tồn tại rất ít (như làng gốm Bát Tràng,…). - “Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề, giữa các hộ sản xuất có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội” [29, tr. Quan niệm này chưa phản ánh được đầy đủ tính chất, đặc điểm của làng nghề, nó vẫn chưa thể hiện được sự khác biệt giữa làng nghề ở nông thôn với những trung tâm sản xuất thủ công nghiệp ở thành thị, trị trấn. - “Làng nghề là một cộng đồng dân cư sống tập trung trên cùng một địa bàn nông thôn.
Trong làng đó, có một bộ phận dân cư tách ra cùng nhau sinh sống bằng việc sản xuất một hoặc một số loại hàng hóa, dịch vụ; trong đó có ít nhất một loại hàng hóa, dịch vụ đặc trưng thu hút đông đảo lao động hoặc 9 hộ gia đình trong làng tham gia, đem lại nguồn thu nhập chính và chiếm tỉ trọng lớn so với thu nhập dân cư tạo ra trên địa bàn làng hoặc cộng đồng dân cư đó” [5, tr. - Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra khái niệm làng nghề như sau: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [4, tr. - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định: “Làng nghề là làng (thôn, ấp) ở nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệp phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của người dân sống trong làng. Về mặt định lượng, làng nghề là làng có từ 35% đến 40% số hộ trở lên có tham gia hoạt động ngành nghề, thu nhập từ ngành nghề chiếm từ 50% tổng thu nhập của các hộ gia đình, và giá trị sản lượng của ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương” [3, tr.
- Tại Hà Tĩnh làng nghề được xác định: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các đểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [23, tr. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, làng nghề sẽ được xem xét theo cách hiểu này.2 Phân loại làng nghề Làng nghề được phân loại thành hai nhóm chính: làng nghề truyền thống và làng nghề mới. Làng nghề truyền thống là làng nghề có truyền thống được hình thành từ lâu đời. Đó là những thôn làng làm nghề thủ công có truyền thống lâu năm, thường là nhiều thế hệ, ít nhất cũng là hàng chục năm.
Nhiều làng nghề thậm chí đã nổi tiếng từ nhiều thế kỷ trước, tạo ra được những sản phẩm có tính độc đáo, có độ tinh xảo cao, đã được tiêu thụ tại 10 nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Dù nghề thủ công được du nhập vào làng bằng con đường nào thì sự phát triển cũng diễn ra dưới hình thức có tồn tại một số hạt nhân (nghệ nhân, gia đình, dòng họ…) làm nòng cốt, từ đó mở rộng ra phạm vi cả làng. Theo quy định của UBND tỉnh Hà Tĩnh, làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời. “Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí: Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm; Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề” [23, tr.
Ngày nay khi nền kinh tế càng phát triển các làng nghề mới hình thành ngày một nhiều. Chúng được hình thành do sự lan tỏa của các làng nghề truyền thống và sự ra đời của các ngành nghề mới. Các làng nghề mới ra đời ban đầu nhằm giải quyết lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn lúc nông nhàn. Sau này, một số làng nghề phát triển mạnh tách dần khỏi nông nghiệp, tạo thành các làng nghề mới.
Bên cạnh đó, các làng nghề ở Việt Nam có thể được chia thành 5 nhóm, đó là: - Nhóm thứ nhất: Bao gồm các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm, sứ, sơn mài, thêu ren, khảm, chạm khắc gỗ, đá… - Nhóm thứ hai : Là các ngành nghề sản xuất công cụ như rèn đúc, làm cày bừa, nông cụ, đóng thuyền… - Nhóm thứ ba: Là các ngành nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường như: làm lược, dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ, rá, sọt bồ, bện thừng, dệt vải, may mặc. - Nhóm thứ tư: Bao gồm các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống: như nề, mộc, hàn, đúc đồng, gang, sản xuất vật liệu xây dựng… 11 - Nhóm thứ năm: Bao gồm các ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm như: xay xát, làm bánh, làm bún, đường, mật, làm tương, đậu phụ, nấu rượu, chế biến hải sản các loại… Ngoài ra còn có thể phân lo ại theo quy mô sản xuất (lớn, nhỏ, trung bình); phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; theo licḥ sử phát triển ; theo mức độ sử dụng nguyên liệu, theo thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc theo tiềm năng tồn tại và phát triển… 1. Vai trò của làng nghề 1. Giải quyết việc làm, tăng thu nhập và góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân nông thôn Làng nghề có vai trò to lớn trong việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động ở nông thôn.
Với mạng lưới phân bổ rộng khắp trong cả nước bao gồm trên 40.000 cơ sở sản xuất ở gần 3.000 làng nghề, thu hút 1,42 triệu hộ gia đình tham gia, với khoảng 1,35 triệu lao động chính và hàng triệu lao động phụ trong lúc nông nhàn, các làng nghề Việt Nam đang đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi địa phương và cả nước. Nhiều làng nghề nổi tiếng phát triển mạnh làm giàu từ hiện đại hóa công nghệ truyền thống, nắm bắt nhu cầu của thị trường, nhờ đó các sản phẩm làng nghề đã tìm được đầu ra, nhiều làng nghề đứng vững và phát triển. Đời sống của người lao động tại các làng nghề này ổn định, thu nhập từ làng nghề cao hơn từ 4 - 5 lần so với làm nông nghiệp. “Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đang tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng không ngừng tăng lên.
Trung bình mỗi cơ sở doanh nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động thường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4 - 6 lao động thường xuyên và 2 - 5 lao động thời vụ. Ở những làng nghề thêu ren, dệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có 12 thể thu hút 200 - 250 lao động” [12, tr.