MỞ ĐẦU UTCTC cho đến nay vẫn là một vấn đề sức khỏe đối với phụ nữ trên toàn cầu, đặc biệt là các phụ nữ đang sống ở các nước đang phát triển. Theo con số thống kê trên toàn cầu mỗi năm có đến 452.000 ca mới mắc UTCTC. Gần 80% các trường hợp ung thư mới này tập trung ở các nước đang phát triển, nơi mà chương trình tầm soát UTCTC chưa hoạt động có hiệu quả. Ở các quốc gia đang phát triển, UTCTC có tỉ lệ mắc bệnh đứng thứ nhì sau ung thư vú và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ.
Trên thế giới mỗi năm, UTCTC đã lấy đi mạng sống của 231.000 phụ nữ và hơn 80% số này diễn ra ở các nước đang phát triển. Theo số liệu của WHO, có đến 50% các trường hợp UTCTC xảy ra ở châu Á. [49] Ở Việt Nam nếu chỉ tính riêng UTCTC thì số người chết vì HPV đã cao hơn nhiều so với HIV. Trong 10 năm qua có khoảng 6.000 phụ nữ chết vì UTCTC cao gấp đôi so với phụ nữ chết vì HIV/AIDS; mặc dù khác với HIV, các tổn thương do HPV, thậm chí ung thư do HPV có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm.
Tuy nhiên thực tế ở Việt nam, phần lớn bệnh nhân ung thư cổ tử cung chỉ được phát hiện ở giai đoạn cuối, vài năm trước khi qua đời. [45] Hầu hết tất cả các ca UTCTC đều có liên quan Human papillomavirus (HPV), một loại virus có DNA đặc thù theo mô dễ lây lan rộng rãi. Hiện vẫn không có thuốc điều trị đặc hiệu cho nhiễm HPV [34,15,6]. HPV là một tổ hợp các chủng vi rút khác nhau [13].
Người ta biết tới hơn 100 loại HPV, trong đó hai type HPV nguy cơ cao có liên quan tới khoảng 70% tất cả các ca ung thư cổ tử cung: HPV -16 và -18. Ung thư cổ tử cung có thể phòng tránh được nếu phát hiện sớm được các tổn thương tiền ung thư và điều trị. [51] Với những điều nêu trên chúng tôi tiến hành: “xây dựng quy trình phát hiện và định lượng E7 mRNA Human papillomavirus type 16 gây bệnh ung thư cổ tử cung bằng kỹ thuật Realtime RT – PCR ” Nội dung chính của đề tài bao gồm: Trang: 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Thiết kế và đánh giá các primer, probe chuyên biệt cho E7 mRNA của HPV type 16. - Xây dựng quy trình Real time RT – PCR nhằm phát hiện và định lượng E7 mRNA của bệnh nhân nhiễm HPV type 16.
- Thử nghiệm quy trình Realtime RT-PCR trên bệnh phẩm. Trang: 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Trang: 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP I. BỆNH UNG THƯ CỔ TỬ CUNG I.1Định nghĩa : [60] UTCTC là những tổn thương ác tính phát triển tại cổ tử cung. Ung thư xuất hiện khi các tế bào cổ tử cung biến đổi và phát triển bất thường một cách không kiểm soát.
Ung thư cổ tử cung tiến triển bằng cách có thể xâm lấn tại chỗ hay lan rộng đến những cơ quan khác của cơ thể và gây tử vong. Nhiễm lâu dài virus papilloma (HPV) là điều kiện cần để dẫn đến ung thư cổ tử cung. Theo nghiên cứu của Cơ quan Quốc tế nghiên cứu về ung thư thì 99,7% các trường hợp ung thư cổ tử cung có sự hiện diện của Human Pappiloma Virus (HPV) type nguy cơ cao. Hình 1: Ba giai đoạn tăng trưởng bất thường của tế bào I.2 Sinh bệnh học:[57] Tân sinh trong biểu mô cổ tử cung hay nghịch sản cổ tử cung (thường được Trang: 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP viết tắt là CIN, theo tiếng Anh Cervical Intraepithelial Neoplasia) chỉ những thay đổi của niêm mạc cổ tử cung có tiềm năng ác tính nhưng chưa có sự xâm nhập vào mô đệm.
Đa số hiện tượng này xuất hiện ở vùng chuyển tiếp giữa biểu mô lát và biểu mô tuyến (hay biểu mô trụ) của cổ tử cung. Đây là vùng thường xuyên biến đổi và rất nhạy cảm với những thay đổi của môi trường xung quanh nó. Từ tân sinh trong biểu mô cổ tử cung có thể sẽ diễn tiến thành ung thư tại chỗ, rồi ung thư xâm lấn cổ tử cung .3 Tác nhân gây bệnh ung thư cổ tử cung: I.1 Tác nhân gây bệnh: [2,38] Human papillomavirus là tác nhân chủ yếu gây ra các ca UTCTC. Human papillomaviruses là những virus có DNA mạch đôi, vòng nhỏ, thuộc họ Papovaviridae.
Có hơn 100 type HPV khác nhau đã được xác định, trong đó 40 type được biết là gây nhiễm qua đường tình dục. Hình 2: Human papillomavirus Papillomaviruses được Giuseppeffo Ciu mô tả lần đầu tiên vào năm 1907, nhưng HPV vẫn chưa đươc nghiên cứu rộng rãi cho đến khi Khoa Virut học có mặt vào năm 1970. HPV được phân loại bao gồm : nguy cơ cao và nguy cơ thấp. Những type HPV nguy cơ thấp, như là 6 và 11, gây ra những tổn thương nhẹ với nguy cơ phát triển thành ác tính là thấp.
Trái lại, HPVs nguy cơ cao có gene gây ung thư tiềm ẩn. Trang: 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Khoảng 90% ung thư trong thượng mô cổ tử cung (CIN) mức độ cao có chứa DNA HPV nguy cơ cao, với type HPV 16 phổ biến nhất, theo sau là type 18, 31, 33 và 45 [30]. Trong đó, type 16 chiếm khoảng 50 – 70 %, còn type 18 là 7 – 20 % [27].2Đặc điễm của HPV: [16,40,41] Đặc Điểm sinh học: Bộ gene của HPV có chiều dài khoảng 8000 bp, mã hóa 8 khung đọc mở (ORFs), được phiên mã như mRNAs polycistronic. Những trình tự điều hòa cần thiết cho sự sao chép và phiên mã của virus được tập trung trong một vùng không mã hóa gọi là “vùng điều hòa ngược” hay “vùng kiểm soát dài”.
Sản phẩm gene được chia ra bao gồm protein “sớm” và “trễ” phụ thuộc vào thời điểm biểu hiện trong suốt chu kỳ sống của virus. Những phân tử quyết định cho sự sao chép của virus là E6 và E7, với chức năng làm bất hoạt sản phẩm của hai gene đàn áp khối u là p53 và pRb. Cả hai gen gây ung thư này đều gây ra sự tăng nhanh, sự bất tử và những thay đổi ác tính của những tế bào bị nhiễm. Hoạt động của E6 là chất đàn áp apoptosis và làm trung gian cho sự sống sót của những tế bào bị hư hại nghiêm trọng, trong khi chức năng của E7 như là một chất hoạt hóa cho sự sao chép và sự tăng trưởng của tế bào.
Cả hai có thể làm bất tử tế bào người một cách độc lập, nhưng chức năng chung là tạo ra hiệu quả bổ trợ và bổ sung nhau, gây ra sự tăng lên rõ ràng trong hoạt động biến đổi. Trang: 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Hình 3: Cấu trúc bộ gene HPV type 16 Sự tiến triển từ nhiễm HPV thành ung thư cổ tử cung: [4,32,33] Ung thư cổ tử cung bắt nguồn từ nhiễm HPV. Hầu hết các viêm nhiễm đều tự biến mất mà không hề có triệu chứng, nhưng viêm nhiễm kéo dài với các loại có nguy cơ cao có thể dẫn đến bị các bất thường tiền UTCTC và gây nên các tổn thương trong biểu mô cổ tử cung độ thấp. Trong số các phụ nữ nhiễm các loại HPV nguy cơ cao, khoảng từ 5% đến 10% sẽ chuyển thành viêm nhiễm HPV kéo dài và vì vậy làm tăng nguy cơ xuất hiện các tổn thương tiền ung thư ở cổ tử cung.
Nếu không được điều trị, các tổn thương tiền ung thư này sẽ tiến triển thành ung thư cổ tử cung xâm lấn. Cả ung thư và tiền ung thư thường xuất hiện ở “khu vực ranh giới” ở cổ tử cung, và tiến triển mạnh hơn trong thời kỳ dậy thì và mang thai. Thông thường, các lớp trên cùng của biểu mô cổ tử cung chết đi và bong ra, và các tế bào mới lại tiếp tục được sản sinh. Tuy nhiên, đối với viêm nhiễm HPV kéo dài, thì tiến trình này bị ngắt quãng; các tế bào có xu hướng tiếp tục sản sinh, trước tiên sẽ trở thành bất thường (tiền ung thư), và sau đó sẽ xâm lấn tới các biểu mô phía dưới (ung thư xâm lấn).
Vì sự tiến triển từ nhiễm HPV đến ung thư xâm lấn là rất chậm, thường kéo dài hàng chục năm, cho nên chúng ta thường gặp ở phụ nữ ở độ tuổi 40 và 50. Tham khảo hình 4 về tỷ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung theo độ tuổi.[15 – 19 ] Trang: 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Hình 4: Tỷ lệ tử vong ung thư cổ tử cung chia theo lứa tuổi trên 100000 phụ nữ I. Tình hình bệnh ung thư cổ tử cung trên thế giới và ở Việt Nam: I.1 Tình hình bệnh trên thế giới: [1,20,21,24,25] Trên toàn thế giới, hằng năm có trên 250 ngàn phụ nữ tử vong vì căn bệnh này. Tại vùng cận sa mạc Sahara Châu Phi, Mỹ La tinh và Nam Á, số người mới nhiễm và tỷ lệ tử vong là cao nhất (hình 5).
Nhìn tổng thể, tỷ lệ tử vong tại các nước đang phát triển cao gấp 4 lần tại các nước công nghiệp; 80% đến 85% ca tử vong do ung thư cổ tử cung xảy ra tại các nước đang phát triển. Ở các vùng này, ung thư cổ tử cung thường xảy ra ở những phụ nữ có nhiều con, và họ chết đi đã kéo theo sự ảnh hưởng rất lớn đến xã hội của cộng đồng nơi họ sinh sống. Theo điều tra của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế, tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ toàn cầu dao động trong khoảng 9 – 13 %, nghĩa là cứ 10 phụ nữ thì có 1 người bị nhiễm HPV. Tại Mỹ, có khoảng 40% phụ nữ trẻ nhiễm HPV trong vòng 3 năm sau khi có quan hệ tình dục.
Ở Pháp, mỗi năm có khoảng gần 3,400 trường hợp ung thư cổ tử cung được chẩn đoán và có hơn 1,000 phụ nữ tử vong vì chứng bệnh này. Mặc dù ung thư cổ tử cung ngày càng giảm dần ở các nước phát triển, nơi mà việc sàng lọc phát hiện Trang: 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP bệnh đã được thực hiện khá lâu, căn bệnh này vẫn rất phổ biến ở các nước thuộc thế giới thứ ba. Hình 5: Số ca ước tính và tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung I.2 Tình hình bệnh ở Việt Nam:[49] Ở Việt Nam, KCTC chiếm tỉ lệ 53,5% các loại ung thư ở nữ giới. WHO ước tính tỉ lệ KCTC ở phụ nữ Việt Nam từ 16 đến 24/100.
Theo các con số thống kê ở Hà Nội và TP. HCM 1996 – 1999 tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi tính trên 100000 dân lần lượt là 5. Như vậy tỉ lệ ung thư cổ tử cung ở TP. HCM tương đối cao nếu đem so sánh với thống kê ở Mỹ (SEER) là 7.