Chương 1. Lý luận chung về hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty và pháp luật điều chỉnh hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty Chương 2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty và một số kiến nghị Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo 4 CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU THEO CHƢƠNG TRÌNH LỰA CHỌN CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TY VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TY 1.1 Lý luận chung về hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty Để đánh giá được thực tiễn pháp luật cũng như xác định được những nội dung cần hoàn thiện của pháp luật điều chỉnh hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty, khóa luận cần phải tiến hành trả lời các câu hỏi nhằm xác định được bản chất và ứng dụng của hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty, xác định được tầm quan trọng của việc xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty, nội dung của pháp luật điều chỉnh vào hoạt động này là gì và đáp ứng các nguyên tắc nào.1 Khái niệm hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty Các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành không quy định khái niệm hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty.
Cách hiểu về hoạt động này thường được đúc kết thông qua nội dung điều chỉnh của các quy định pháp luật liên quan và thực tiễn triển khai tại Việt Nam.TS Lê Thị Thu Thủy, phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty được hiểu là chương trình mà công ty đại chúng phát hành cổ phiếu để thưởng hoặc bán cho NLĐ được lựa chọn nhằm thực hiện các chính sách nhân sự của công ty1. Trên thực tế, có ba mục đích chính thường được các công ty đưa ra tại các văn bản thông báo phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ: i) nhằm tri ân những đóng góp của NLĐ vào sự tăng trưởng và phát triển của công ty2; ii) nhằm 1 Đại học Quốc gia Hà Nội (2017), Giáo trình Pháp luật về Thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 346. 2 Công ty Cổ phần Đầu tư Thế giới di động, “Thông báo Phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty”, https://mwg.vn/uploads/2022/3/20220316---mwg---cbtt-tb-phat-hanh-cp-theo-chuong- trinh-lua-chon-nld.pdf, truy cập ngày 12/5/2022. 5 gắn kết lợi ích của NLĐ với công ty3 và iii) nhằm bổ sung vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty4.
Hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty tại Việt Nam thường được gọi là ESOP. Nguyên gốc từ ESOP là viết tắt của Employee Stock Ownership Plan, tạm dịch là Chương trình NLĐ sở hữu cổ phần, xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1956 tại San Francisco, Hoa Kỳ5. Tuy nhiên ESOP ở Việt Nam có những điểm khác nhất định so với ESOP ở Hoa Kỳ và một số quốc gia. Về tổng thể, ESOP ở Hoa Kỳ là một loại kế hoạch phúc lợi cho nhân viên, cho phép nhân viên sở hữu một phần hoặc toàn bộ công ty mà họ đang làm việc.
Cụ thể, ESOP được thiết kế như là kế hoạch nghỉ hưu đủ tiêu chuẩn về thuế, được pháp luật liên bang về thuế và lương hưu cho phép và khuyến khích thực hiện6. Chức năng phổ biến nhất của ESOP là tạo điều kiện thuận lợi cho việc lập kế hoạch kế thừa doanh nghiệp, cho phép chủ sở hữu doanh nghiệp mà chủ yếu là các doanh nghiệp do một người hoặc một nhóm người có quan hệ thân thích làm chủ, bán cổ phần của mình cho nhân viên, và chuyển đổi quyền sở hữu doanh nghiệp một cách linh hoạt cho nhân viên khi họ về hưu7. Bên cạnh đó, ESOP cũng được doanh nghiệp sử dụng nhằm mục tiêu gia tăng năng suất làm việc của nhân viên, giữ chân nhân viên và tận dụng ưu đãi về thuế để phục vụ cho kế hoạch tài chính của doanh nghiệp8. ESOP ở Hoa Kỳ được thực hiện thông qua quỹ ESOP (ESOP trust).
Theo đó, công ty sử dụng tiền có sẵn hoặc quỹ ESOP có thể tự vay tiền để mua cổ phiếu đã phát hành hoặc được phát hành mới của công ty sau đó đưa vào quỹ ESOP. Quỹ ESOP giữ và phân phối cổ phiếu cho NLĐ đáp ứng các điều kiện nhất định, theo tỷ lệ được tính bằng công thức quy định tại quy chế của chương trình ESOP. Cổ phiếu 3 Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng, “Công bố thông tin phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty từ nguồn cổ phiếu quỹ”, https://www.vn/- /media/vpbank-latest/5nha-dau-tu/cong-bo-thong-tin-thong-tin-khac/nam-2019/vn/cv-213-2019--cbtt-phat- hanh-esop-tu-cpq.pdf, truy cập ngày 12/5/2022. 4 Công ty cổ phần Tập đoàn Tư vấn Đầu tư Xây dựng Kiên Giang, “Thông báo phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty”, https://www.vn/uploads/2022/02/10/20220210_20220210%20-%20CKG%20- %20Thong%20bao%20phat%20hanh%20co%20phieu%20theo%20chuong%20trinh%20lua%20chon%20ch o%20nguoi%20lao%20dong%20trong%20cong%20ty%20(1).pdf, truy cập ngày 12/5/2022.
Buxton, “The Origin and History of the ESOP and Its Future Role as a Business Succession Tool”, https://cleo.edu/articles/the-origin-and-history-of-the-esop-and-its-future- role-as-a-business-succession-tool/, truy cập ngày 14/5/2022. 6 The ESOP Association, “ESOP Brief #1 - What is an ESOP”, https://esopassociation.org/articles/esop- brief-1-what-esop, truy cập ngày 14/5/2022. 7 Washington College of Law, ESOPS Info Sheet, https://www.edu/academics/experientialedu/clinical/theclinics/elc/tlcc/for-businesses- nonprofits/esops-info-sheet/, truy cập ngày 14/5/2022. 8 Washington College of Law, tlđd (7), truy cập ngày 14/5/2022.
6 được phân phối trực tiếp vào tài khoản của NLĐ. Tuy nhiên, NLĐ không sở hữu số cổ phiếu đó ngay lập tức mà phải đáp ứng một khoảng thời gian làm việc nhất định cho công ty thì mới có quyền sở hữu từng phần hoặc toàn bộ số cổ phiếu đó, tùy thuộc vào quy chế chương trình ESOP của công ty. Khi NLĐ đến tuổi nghỉ hưu hoặc rời khỏi công ty, họ sẽ nhận được khoản thanh toán cho giá trị những cổ phần thuộc sở hữu9. Với cơ chế trên, ESOP không chỉ tạo phúc lợi cho NLĐ khi về hưu mà còn tạo ra một “thị trường” để người chủ sở hữu công ty có thể bán phần sở hữu của mình cho công ty khi họ về hưu cho những NLĐ khác trong công ty mà không phải bán công ty cho một doanh nghiệp khác, tránh các hệ quả xấu thường thấy ở những vụ mua lại doanh nghiệp như nhân viên chủ chốt bị sa thải, danh tính công ty bị xóa mờ, chất lượng sản phẩm, dịch vụ công ty bị suy giảm.
Chủ sở hữu của công ty lúc này sẽ là những NLĐ hiểu rõ về công ty và vì thế có thể duy trì, phát triển công ty theo bản sắc riêng. Theo thống kê của Trung tâm Quốc gia về Quyền sở hữu của NLĐ (National Center for Employee Ownership - NCEO), khoảng hai phần ba số lượng kế hoạch ESOP ở Hoa Kỳ được các công ty do một cá nhân hay một nhóm người có quan hệ thân thiết làm chủ sử dụng như kế hoạch chuyển quyền sở hữu doanh nghiệp của mình cho nhân viên. Phần lớn phần còn lại được sử dụng như một kế hoạch phúc lợi bổ sung cho nhân viên hoặc như một phương tiện để vay tiền được ưu đãi về thuế. Dưới 10% kế hoạch được thực hiện bởi các công ty đại chúng.
Thay vì thực hiện ESOP, phần lớn các công ty đại chúng ở Hoa Kỳ sử dụng kế hoạch quyền chọn mua cổ phiếu (Stock Option Plan) hoặc các kế hoạch trả thưởng vốn cổ phần khác như một chế độ ưu đãi cho nhân viên10. Không giống như ở Hoa Kỳ, ESOP ở Thái Lan không được xem như một kế hoạch để chuyển quyền sở hữu công ty từ chủ sở hữu sang NLĐ mà ESOP chỉ đơn giản là một kế hoạch phúc lợi nhằm thu hút, giữ chân NLĐ và tạo động lực cho NLĐ làm việc năng suất hơn11. Và vì thế cách thức triển khai ESOP ở Thái Lan cũng không giống với Hoa Kỳ. Như vậy, về bản chất, các quốc gia đều xem ESOP là một hoạt động nhằm cung cấp cho NLĐ quyền sở hữu cổ phần của công ty.
Tuy nhiên mục đích thực hiện và cách triển khai ESOP là không hoàn toàn giống nhau giữa các quốc gia. Sự 9 National Center for Employee Ownership, “How an Employee Stock Ownership Plan (ESOP) Works”, https://www.org/articles/esop-employee-stock-ownership-plan, truy cập ngày 15/5/2022. 10 National Center for Employee Ownership, “Employee Stock Ownership Plan (ESOP) Facts”, https://www.org/, truy cập ngày 14/5/2022. 11 Theo Ủy ban Chứng khoán Thái Lan, https://www.th/en/pages/lawandregulations/employeestockoptionprogram.aspx, truy cập ngày 22/6/2022.
7 thật là cách sử dụng thuật ngữ ESOP ở nhiều quốc gia, điển hình là Việt Nam và Thái Lan, là không giống với nguồn gốc của ESOP bắt nguồn từ Hoa Kỳ. Hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty hay thường được hiểu là ESOP ở Việt Nam thực chất là một hoạt động nhằm thiết lập “employee ownership”, tạm dịch là quyền sở hữu của NLĐ. “Employee ownership” hay Quyền sở hữu của NLĐ được hiểu là tình huống mà NLĐ có quyền sở hữu cổ phần trong công ty nơi họ làm việc, thông qua việc nắm giữ cổ phiếu của công ty. Đây là một kênh mà qua đó NLĐ chia sẻ lợi nhuận của công ty và có thể bỏ phiếu cho các quyết định quan trọng của công ty hay tham gia nhiều hơn vào các quyết định của công ty12.
Quyền sở hữu của NLĐ có thể được thiết lập dưới nhiều hình thức khác nhau như: ESOP, kế hoạch lương hưu 410 (k) 13 và các kế hoạch lương hưu khác; kế hoạch NLĐ mua cổ phiếu của công ty (Employee Stock Purchase Plan - ESPP)14; hợp tác xã của NLĐ (Worker Cooperative)15; chương trình quyền chọn mua cổ phần (Stock Option Plan)16. Như vậy, có thể thấy hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty là một khái niệm rộng hơn ESOP và ESOP hay các hình thức khác nêu trên chỉ là một cách thức để thực hiện hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho NLĐ trong công ty. Tuy nhiên, để ngắn gọn về hình thức trình bày, tác giả sẽ sử dụng từ “ESOP” để nói đến và thay cho cụm từ “hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty” và “cổ phiếu ESOP” thay cho “cổ phiếu phát hành theo hoạt động phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty”.