Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Kể từ khi hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đổi mới mô hình tổ chức từ một cấp thành hai cấp vào tháng 5/1990, các ngân hàng thương mại đã từng bước phát triển và đảm nhận vai trò kênh dẫn vốn huyết mạch của nền kinh tế. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro trước tác động của các yếu tố bên ngoài (bất ổn chính trị, khủng hoảng kinh tế, biến động thị trường bất động sản) và các yếu tố bên trong (năng lực quản trị rủi ro, khâu thẩm định của cán bộ ngân hàng, đạo đức nghề nghiệp). Nợ xấu trở thành vấn đề đáng quan ngại đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Số liệu thống kê được tác giả trích dẫn cho thấy, tính đến hết quý III/2020, nợ xấu tại 17 ngân hàng thương mại đã vượt mức 97.280 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ tương đương 1,8% tổng tài sản.
Thực tiễn xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đang gặp nhiều vướng mắc do hệ thống văn bản hướng dẫn còn thiếu đồng bộ, quy trình xử lý nợ chưa hoàn thiện và nhiều quy định chuyên ngành còn cứng nhắc. Tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) - Chi nhánh huyện Tân Yên, Bắc Giang, mặc dù hoạt động kinh doanh tương đối ổn định với thế mạnh về vốn và dịch vụ, nhưng chi nhánh vẫn đối mặt với áp lực gia tăng nợ xấu. Do là một chi nhánh cấp huyện, Agribank Tân Yên gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng các công cụ pháp luật để giải quyết dứt điểm các khoản nợ tồn đọng. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu pháp luật về xử lý nợ xấu gắn với thực tiễn tại chi nhánh này.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là xây dựng các luận cứ lý luận và thực tiễn để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam, trọng tâm là Agribank Tân Yên trong tiến trình hội nhập và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm bốn nội dung:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận chung khái niệm nợ xấu và phân loại nợ xấu.
- Phân tích, đánh giá một cách khoa học và đầy đủ nguyên nhân, biện pháp xử lý nợ xấu và nguyên tắc xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại trong thời gian qua.
- Phân tích thực trạng xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Agribank Tân Yên, từ đó đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý nợ xấu và xác định nhu cầu thực tiễn cần hoàn thiện.
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Agribank Tân Yên và kiến nghị giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu là các quy định hiện hành của pháp luật điều chỉnh hoạt động xử lý nợ xấu tại các ngân hàng ở Việt Nam, cùng hệ thống quy chế nội bộ và thực tiễn xử lý nợ xấu của Ngân hàng Agribank Tân Yên. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào khía cạnh pháp lý tại các ngân hàng thương mại Việt Nam và đi sâu khảo sát tại Agribank Chi nhánh huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; phạm vi thời gian nghiên cứu các văn bản pháp luật và dữ liệu thực tế từ năm 2013 đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2022); phạm vi nội dung là các quy phạm pháp luật trong các Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định điều chỉnh hoạt động xử lý nợ xấu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống khái niệm và cơ sở pháp lý dựa trên các chuẩn mực quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam:
- Chuẩn mực quốc tế: Hướng dẫn quản lý rủi ro tín dụng của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) (khoản nợ không có khả năng hoàn trả khi người vay quá hạn 90 ngày hoặc ngân hàng nhận định người vay không thể trả nợ đầy đủ); định nghĩa chỉ số lành mạnh tài chính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) (khoản vay không sinh lời khi tiền gốc/lãi quá hạn từ 90 ngày trở lên hoặc được tái cơ cấu).
- Văn bản pháp luật Việt Nam: Khoản 8 Điều 3 Thông tư 02/2013/TT-NHNN về phân loại nợ xấu (thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5); Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 300, Điều 303 về xử lý tài sản bảo đảm, Điều 466 về nghĩa vụ trả nợ); Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu; Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Luật Các tổ chức tín dụng 2010; Luật Đất đai 2013; Quyết định 843/QĐ-TTg; Thông tư 19/2013/TT-NHNN và Thông tư 09/2017/TT-NHNN; Thông tư 39/2016/TT-NHNN; Nghị định 163/2006/NĐ-CP và Nghị định 11/2012/NĐ-CP; Nghị định 102/2017/NĐ-CP; Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 14/2021/TT-NHNN.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt ba chương để làm rõ các khái niệm lý luận, cấu trúc các quy định pháp luật và phân tích chuỗi dữ liệu thực tế.
- Phương pháp so sánh: Áp dụng chủ yếu ở Chương 2 nhằm đối chiếu sự tương thích hoặc xung đột giữa các văn bản quy phạm pháp luật (như giữa Nghị quyết 42/2017/QH14 với Luật Đất đai 2013 và các Nghị định chuyên ngành).
- Phương pháp diễn giải - quy nạp: Sử dụng để diễn giải ý nghĩa các bảng số liệu tài chính tín dụng và khái quát hóa thực trạng áp dụng pháp luật tại đơn vị khảo sát.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm: Báo cáo tài chính và báo cáo hoạt động tín dụng nội bộ của Agribank Chi nhánh huyện Tân Yên giai đoạn 2018 - 2020; số liệu công bố từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (World Bank), các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2021; cùng các bài báo khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế và Tài chính - Ngân hàng liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Những lí luận cơ bản về xử lí nợ xấu và pháp luật xử lí nợ xấu của Ngân hàng thương mại
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về nợ xấu, quy trình xử lý nợ xấu và khung pháp luật điều chỉnh. Về bản chất, nợ xấu là khoản tín dụng đã quá hạn mà ngân hàng chưa hoặc không thể thu hồi do bên vay mất khả năng thanh toán. Tác giả phân loại nợ xấu theo ba tiêu chí:
- Căn cứ thời gian quá hạn: Chia thành 5 nhóm nợ theo quy định hiện hành, trong đó nợ xấu bao gồm Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn, quá hạn từ 91 đến 180 ngày; nợ cơ cấu lại quá hạn dưới 30 ngày; nợ được miễn/giảm lãi), Nhóm 4 (nợ nghi ngờ, quá hạn từ 181 đến 360 ngày; nợ cơ cấu lại quá hạn 30 đến dưới 90 ngày) và Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn, quá hạn trên 360 ngày; nợ cơ cấu lại quá hạn từ 90 ngày trở lên).
- Căn cứ nguyên nhân: Nợ xấu do bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh Covid-19, thay đổi chính sách); do lỗi của người vay (quản lý tài chính yếu kém, chây ỳ trốn tránh nghĩa vụ); do lỗi của ngân hàng (thẩm định sơ sài, cán bộ thiếu đạo đức, buông lỏng kiểm tra sau vay).
- Căn cứ việc xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro: Nợ hạch toán nội bảng (chưa xử lý bằng quỹ) và nợ hạch toán ngoại bảng (đã xử lý bằng quỹ dự phòng).
Về hậu quả, nợ xấu làm thâm hụt nguồn vốn, suy giảm lợi nhuận và đe dọa thanh khoản của ngân hàng; làm suy giảm uy tín và khả năng tiếp cận vốn của khách hàng vay; đồng thời gây lãng phí nguồn lực xã hội, làm giảm chỉ số tín nhiệm quốc gia và suy giảm hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô.
Về biện pháp xử lý, ngân hàng thương mại thường sử dụng sáu biện pháp nghiệp vụ: đôn đốc thu hồi nợ; tái cơ cấu khoản nợ; xử lý tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ; bán nợ (cho VAMC, DATC, AMC); sử dụng công cụ pháp lý (khởi kiện ra tòa án, yêu cầu mở thủ tục phá sản); và xử lý bằng nguồn ngân sách nhà nước (áp dụng riêng cho các khoản vay chính sách).
Nghiên cứu khẳng định pháp luật xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại bao gồm hệ thống các quy phạm điều chỉnh quan hệ phát sinh trong quá trình thu hồi nợ. Bốn nguyên tắc xử lý nợ xấu then chốt được phân tích theo Điều 3 Nghị quyết 42/2017/QH14:
- Đảm bảo công khai, minh bạch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
- Phù hợp với cơ chế thị trường, tuân thủ nguyên tắc thận trọng, đảm bảo quyền lợi người gửi tiền và giữ vững an toàn hệ thống.
- Không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy ra nợ xấu hoặc trong quá trình xử lý nợ xấu phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Chương II: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện đối với hoạt động xử lí nợ xấu của ngân hàng Agribank Tân Yên, Bắc Giang
Chương II phản ánh toàn diện thực trạng quy mô nợ xấu toàn ngành và tại Agribank Tân Yên, phân tích các quy định pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn tác nghiệp tại chi nhánh.
Giai đoạn 2008 - 2016 chứng kiến quy mô nợ xấu của 8 ngân hàng thương mại tăng mạnh, đạt mức đỉnh vào năm 2013 với hơn 50.865 tỷ đồng do ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính toàn cầu và thị trường bất động sản đóng băng. Đến cuối năm 2020 và 6 tháng đầu năm 2021, tác động của đại dịch Covid-19 tiếp tục làm nợ xấu nội bảng của hệ thống ngân hàng tăng từ 1,69% lên 1,78%, tổng nợ xấu của gần 30 ngân hàng tăng 4,5%.
Tại Agribank Chi nhánh huyện Tân Yên, đơn vị được thành lập theo Quyết định số 66/NH-QĐ ngày 08/07/1988 của Phó Tổng Giám đốc NHNN, ban đầu tiếp quản 30 tỷ đồng dư nợ và 7 tỷ đồng nguồn vốn. Đến giai đoạn nghiên cứu, chi nhánh đạt dư nợ gần 1.500 tỷ đồng và nguồn vốn trên 3.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân giai đoạn 2018 - 2020 bộc lộ sự suy giảm:
| Chỉ tiêu |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
So sánh 2019/2018 (+/-) |
So sánh 2019/2018 (%) |
So sánh 2020/2019 (+/-) |
So sánh 2020/2019 (%) |
| Dư nợ cho vay (tỷ đồng) |
1.308,00 |
1.346,00 |
1.480,00 |
+38,00 |
+2,90% |
+134,00 |
+9,96% |
| Nợ xấu (nhóm 3 - 5) (tỷ đồng) |
12,98 |
18,22 |
29,67 |
+5,24 |
+40,37% |
+11,45 |
+86,00%* |
| Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ (%) |
0,99% |
1,35% |
2,00% |
+0,36% |
- |
+0,65% |
- |
(Ghi chú: Tốc độ gia tăng nợ xấu năm 2020 so với năm 2019 theo đánh giá văn bản đạt hơn 86%, đẩy quy mô nợ xấu lên 29,67 tỷ đồng).
Đánh giá thực trạng pháp luật xử lý nợ xấu, tác giả chỉ ra các ưu điểm và điểm nghẽn pháp lý:
- Chủ thể xử lý: Nghị quyết 42/2017/QH14 và Quyết định 843/QĐ-TTg tăng cường vị thế cho VAMC (vốn điều lệ tăng từ 500 tỷ đồng lên 2.000 tỷ năm 2017 và đạt 5.000 tỷ năm 2019). Tuy nhiên, pháp luật chưa phân định rõ điều kiện VAMC trực tiếp thu giữ tài sản bảo đảm hay ủy quyền cho TCTD thực hiện.
- Cơ cấu lại thời hạn trả nợ: Khung pháp lý tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN, Nghị định 163/2018/NĐ-CP và Thông tư 14/2021/TT-NHNN (sửa đổi Thông tư 01/2020/TT-NHNN) hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua biến cố dịch bệnh, song thực tế phát sinh tình trạng cán bộ ngân hàng lợi dụng để che giấu nợ xấu.
- Bán nợ: Nghị quyết 42/2017/QH14 tạo cơ sở pháp lý cho phép bán nợ xấu và tài sản bảo đảm theo giá thị trường (kể cả thấp hơn nợ gốc), cho phép bán nợ cho cá nhân/pháp nhân không có chức năng kinh doanh mua bán nợ, và bán các khoản nợ có tài sản đang bị kê biên (Điều 13). Dù vậy, việc VAMC ủy quyền lại cho chính tổ chức tín dụng xử lý khiến hoạt động mua bán nợ mang tính hình thức, nợ xấu của nền kinh tế chưa được xử lý thực chất.
- Khởi kiện tại Tòa án: Áp dụng thủ tục rút gọn theo Nghị quyết 42/2017/QH14 và Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP giúp rút ngắn thời gian tố tụng (vốn thường kéo dài 2 - 3 năm). Tuy nhiên, phát sinh xung đột theo khoản 1 Điều 7 Thông tư 19/2013/TT-NHNN khi chưa có quy định chuyển tiếp tố tụng đối với các khoản nợ TCTD đã khởi kiện Tòa án thụ lý trước khi bán lại cho VAMC.
Tại Agribank Tân Yên, chi nhánh quán triệt ba nguyên tắc: chống xóa nợ, hạn chế gia nợ, chống đảo nợ; đồng thời thành lập Tổ thu hồi nợ xấu và phối hợp chính quyền địa phương. Kết quả áp dụng các biện pháp khai thác và thanh lý nợ xấu giai đoạn 2018 - 2020 được thể hiện qua các bảng sau:
Tình hình khai thác nợ xấu tại Agribank Tân Yên (Đơn vị tính: Tỷ đồng):
| Chỉ tiêu khai thác |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
| Cho vay tiếp để duy trì hoạt động |
1,43 |
1,72 |
1,98 |
| Nợ được cơ cấu lại |
4,85 |
4,90 |
5,40 |
| Nợ được giảm/miễn lãi |
1,15 |
1,83 |
1,53 |
| Tổng nợ xấu được xử lý theo phương án khai thác |
7,43 |
8,45 |
8,91 |
Biện pháp cơ cấu lại nợ chiếm tỷ trọng chủ đạo, gia tăng đều đặn qua các năm. Biện pháp miễn giảm lãi thu hồi trung bình hơn 3,7 tỷ đồng nợ xấu mỗi năm.
Tình hình thanh lý nợ xấu tại Agribank Tân Yên (Đơn vị tính: Tỷ đồng, %):
| Chỉ tiêu thanh lý |
Năm 2018 (Số tiền) |
Năm 2018 (Tỷ trọng) |
Năm 2019 (Số tiền) |
Năm 2019 (Tỷ trọng) |
Năm 2020 (Số tiền) |
Năm 2020 (Tỷ trọng) |
| Xử lý tài sản |
0,85 |
16% |
1,70 |
27% |
0,72 |
10% |
| Khởi kiện |
0,00 |
0% |
0,00 |
0% |
0,00 |
0% |
| Khách hàng trả nợ |
3,00 |
57% |
2,50 |
39% |
5,60 |
74% |
| Xử lý nợ xấu bằng quỹ dự phòng |
1,37 |
26% |
2,21 |
34% |
1,24 |
16% |
| Bán nợ cho VAMC |
0,00 |
0% |
0,00 |
0% |
0,00 |
0% |
| Tổng cộng |
5,22 |
100% |
6,41 |
100% |
7,56 |
100% |
Số liệu cho thấy nguồn thu hồi qua khách hàng tự trả nợ và xử lý quỹ dự phòng chiếm tỷ trọng lớn. Đáng chú ý, chi nhánh không sử dụng biện pháp khởi kiện ra Tòa án (0%) và hoàn toàn không bán nợ cho VAMC (0%) trong suốt ba năm do cơ chế trái phiếu đặc biệt thời hạn 5 năm không tính lãi và thủ tục hoàn trả nợ chưa giải quyết dứt điểm. Việc thanh lý tài sản bảo đảm gặp khó khăn vì tài sản tại địa phương phần lớn là đất canh tác nông nghiệp, khó tìm kiếm người mua.
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại
Tác giả đề ra ba định hướng hoàn thiện khung pháp lý: (1) Khắc phục triệt để các khoảng trống và mâu thuẫn pháp lý; (2) Bảo đảm sự phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước, gắn liền với Quyết định 1058/QĐ-TTg và Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định 968/QĐ-TTg); (3) Tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng thương mại với tư cách là chủ nợ hợp pháp.
Các giải pháp lập pháp và thực tiễn được luận văn phân tích cụ thể:
- Hoàn thiện quy định về chủ thể: Ban hành văn bản quy định chi tiết điều kiện phân định rõ khi nào VAMC trực tiếp đứng tên thu giữ tài sản bảo đảm và khi nào ủy quyền cho tổ chức tín dụng.
- Hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ:
- Sửa đổi các quy định tại khoản 4 Điều 156, khoản 2 Điều 174, khoản 1 Điều 175, khoản 2 Điều 183 Luật Đất đai 2013 nhằm cho phép bên mua nợ (là tổ chức không phải TCTD hoặc cá nhân) được nhận thế chấp quyền sử dụng đất gắn liền với khoản nợ mua.
- Xử lý mâu thuẫn giữa Điều 10 Nghị quyết 42/2017/QH14 (cho phép chuyển nhượng tài sản bảo đảm là dự án BĐS không bắt buộc có Giấy chứng nhận) và điểm b khoản 2 Điều 194 Luật Đất đai 2013 (bắt buộc phải có Giấy chứng nhận).
- Thống nhất quy định thủ tục đăng ký thay đổi bên nhận bảo đảm giữa khoản 1 Điều 18 Nghị định 102/2017/NĐ-CP và điểm g khoản 1 Điều 13 Nghị định 53/2013/NĐ-CP, tạo điều kiện cho bên mua nợ đăng ký sang tên giao dịch bảo đảm dựa trên hợp đồng mua bán nợ.
- Hướng dẫn thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cho tổ chức/cá nhân mua nợ khi tiếp nhận chính tài sản bảo đảm để bù trừ nghĩa vụ.
- Hoàn thiện quy định về xử lý tài sản bảo đảm:
- Cụ thể hóa định lượng "thời gian hợp lý" khi thông báo xử lý tài sản theo Điều 300 Bộ luật Dân sự 2015, tránh tình trạng áp dụng tùy nghi gây tranh chấp.
- Tháo gỡ ách tắc xử lý tài sản gán nợ theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP và Nghị định 11/2012/NĐ-CP về thủ tục sang tên bất động sản.
- Bổ sung cơ chế bảo đảm thi hành quyền thu giữ tài sản bảo đảm, cho phép Cơ quan Thi hành án cưỡng chế bàn giao tài sản khi bên bảo đảm cố tình chây ỳ.
- Hoàn thiện cơ cấu lại nợ: Sửa đổi Thông tư 01/2020/TT-NHNN theo hướng nới rộng thời gian giãn nợ cho các khoản vay trung và dài hạn, ban hành tiêu chí định lượng về mức suy giảm doanh thu theo từng ngành nghề để các ngân hàng áp dụng thống nhất.
- Hai vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu:
- Luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14 thành một văn bản Luật xử lý nợ xấu của các TCTD độc lập nhằm tạo hành lang pháp lý tối cao, ổn định, tránh xung đột với các luật chuyên ngành.
- Thành lập thêm Bộ phận/Phòng Pháp lý tại Agribank Chi nhánh huyện Tân Yên (đơn vị vốn chỉ có 4 phòng chức năng: Giao dịch, Tổng hợp, Kế hoạch - Kinh doanh, Kế toán - Ngân quỹ) để hỗ trợ cán bộ tín dụng rà soát hợp đồng và xử lý tranh chấp đúng quy chuẩn pháp luật.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và chỉ rõ diễn biến nợ xấu tại Agribank Chi nhánh huyện Tân Yên trong 3 năm (2018 - 2020):
- Dư nợ tín dụng tăng trưởng liên tục từ 1.308 tỷ đồng (2018) lên 1.346 tỷ đồng (2019) và đạt 1.480 tỷ đồng (2020).
- Quy mô nợ xấu tăng nhanh từ 12,98 tỷ đồng (2018) lên 18,22 tỷ đồng (2019, tăng 40,37%) và chạm mức 29,67 tỷ đồng (2020, tăng 86% so với 2019), đẩy tỷ lệ nợ xấu từ 0,99% lên 2,00% tổng dư nợ.
- Biện pháp khai thác nợ xấu đã xử lý tổng cộng 7,43 tỷ đồng (2018), 8,45 tỷ đồng (2019) và 8,91 tỷ đồng (2020), trong đó cơ cấu lại nợ chiếm tỷ lệ lớn nhất (từ 4,85 tỷ đến 5,40 tỷ đồng).
- Biện pháp thanh lý nợ xấu đạt 5,22 tỷ đồng (2018), 6,41 tỷ đồng (2019) và 7,56 tỷ đồng (2020), chủ yếu qua nguồn khách hàng tự trả nợ và trích quỹ dự phòng; tỷ lệ khởi kiện ra Tòa án và bán nợ cho VAMC ghi nhận ở mức 0%.
Các kiến nghị chính bao gồm: đề xuất ban hành Luật xử lý nợ xấu để luật hóa Nghị quyết 42/2017/QH14; sửa đổi 4 điều khoản xung đột trong Luật Đất đai 2013; định lượng rõ thời hạn thông báo xử lý tài sản bảo đảm trong Bộ luật Dân sự 2015; và kiện toàn cơ cấu tổ chức tại Agribank Tân Yên bằng việc thành lập Phòng Pháp lý.
So với các nghiên cứu trước đây (như các luận văn của Nguyễn Thị Hoài Phương 2013, Đặng Thị Thanh Nga 2014, Cao Minh Thúy 2015 vốn chủ yếu tiếp cận theo góc độ nghiệp vụ tài chính ngân hàng hoặc nghiên cứu tổng thể các ngân hàng thương mại đô thị), khóa luận này có đóng góp riêng biệt khi tập trung mổ xẻ thực trạng pháp lý gắn liền với địa bàn nông thôn cấp huyện, chỉ rõ các rào cản đặc thù khi xử lý tài sản thế chấp là đất nông nghiệp và việc không thể áp dụng biện pháp bán nợ cho VAMC tại chi nhánh cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn phân tích chủ thể: Tác giả chỉ tập trung nghiên cứu sâu về VAMC và TCTD, chưa phân tích chi tiết chức năng, cơ chế vận hành của Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) cũng như các công ty quản lý tài sản độc lập (AMC) khác.
- Dữ liệu khảo sát: Số liệu thực nghiệm tập trung trong phạm vi một chi nhánh cấp huyện (Agribank Chi nhánh Tân Yên, tỉnh Bắc Giang) trong giai đoạn 3 năm 2018 - 2020, chưa bao quát được toàn diện các chi nhánh thuộc khu vực đô thị hoặc các mô hình NHTM cổ phần tư nhân.
- Biện pháp mua bán nợ: Khóa luận chỉ tập trung khai thác cơ chế bán nợ đối với VAMC mà chưa mở rộng sang thị trường mua bán nợ thương mại thứ cấp tự do.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả chỉ ra là: Tiếp tục nghiên cứu sâu về quá trình xây dựng, ban hành và thẩm định dự thảo Luật xử lý nợ xấu của các TCTD (thay thế Nghị quyết thí điểm số 42/2017/QH14); và nghiên cứu mô hình tổ chức bộ máy quản trị rủi ro pháp lý tại hệ thống ngân hàng nông nghiệp tuyến huyện.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Tài chính - Ngân hàng đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về rủi ro tín dụng, xử lý tài sản bảo đảm và mua bán nợ xấu.
- Cán bộ tín dụng, chuyên viên pháp chế và nhân sự phụ trách công tác thu hồi nợ tại các chi nhánh Agribank và hệ thống ngân hàng thương mại tại các địa bàn nông nghiệp, nông thôn.
- Các cơ quan tham mưu chính sách tín dụng và quản lý nhà nước khi rà soát, đánh giá các điểm bất cập giữa pháp luật chuyên ngành ngân hàng, pháp luật đất đai và pháp luật tố tụng dân sự.
Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất của công trình là phần hệ thống hóa các xung đột pháp luật thực tế tại Chương II (đặc biệt là sự không tương thích giữa Nghị quyết 42 với Luật Đất đai 2013, Nghị định 102/2017/NĐ-CP) và chuỗi dữ liệu thực chứng phản ánh cơ cấu thu hồi nợ xấu tại địa bàn cấp huyện giai đoạn 2018 - 2020.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao Agribank Chi nhánh Tân Yên hoàn toàn không bán nợ xấu cho VAMC trong giai đoạn 2018 - 2020?
Theo phân tích tại Chương II, việc bán nợ cho VAMC không mang lại dòng tiền mặt ngay cho chi nhánh mà đơn vị chỉ nhận về trái phiếu đặc biệt có mệnh giá thấp hơn dư nợ và không được hưởng lãi suất. Đồng thời, ngân hàng vẫn phải trích lập dự phòng rủi ro hàng năm cho trái phiếu này, và sau thời hạn 5 năm nếu khoản nợ không xử lý được thì VAMC sẽ trả lại nợ xấu cho ngân hàng. Vì những ràng buộc trên, chi nhánh lựa chọn các biện pháp khai thác nội lực và xử lý tài sản thay vì bán nợ cho VAMC.
2. Sự xung đột pháp lý giữa Nghị quyết 42/2017/QH14 và Luật Đất đai 2013 về xử lý tài sản bảo đảm là gì?
Khóa luận chỉ ra hai điểm nghẽn chính: Thứ nhất, Điều 10 Nghị quyết 42/2017/QH14 cho phép chuyển nhượng tài sản bảo đảm là dự án bất động sản không bắt buộc phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng điểm b khoản 2 Điều 194 Luật Đất đai 2013 lại quy định bắt buộc phải có Giấy chứng nhận. Thứ hai, các điều 156, 174, 175, 183 Luật Đất đai 2013 quy định người sử dụng một số loại đất chỉ được thế chấp tại TCTD, gây cản trở quyền nhận chuyển nhượng hoặc nhận thế chấp bổ sung của các bên mua nợ không phải là TCTD.
3. Tỷ lệ nợ xấu và quy mô nợ xấu tại Agribank Tân Yên biến động ra sao trong các năm 2018, 2019 và 2020?
Năm 2018, nợ xấu nhóm 3 - 5 của chi nhánh là 12,98 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,99% tổng dư nợ cho vay (1.308 tỷ đồng). Năm 2019, nợ xấu tăng thêm 5,24 tỷ đồng lên 18,22 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 1,35% trên tổng dư nợ 1.346 tỷ đồng). Năm 2020, nợ xấu tăng mạnh thêm 11,45 tỷ đồng, đạt mức 29,67 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2,00% trên tổng dư nợ 1.480 tỷ đồng.
4. Tại sao chi nhánh không áp dụng biện pháp khởi kiện khách hàng vay vốn ra Tòa án nhân dân trong giai đoạn khảo sát?
Thực tế tại chi nhánh ghi nhận tỷ lệ thu hồi nợ bằng con đường khởi kiện đạt 0% trong cả 3 năm do thủ tục tố tụng kéo dài từ 2 đến 3 năm và phát sinh nhiều chi phí tố tụng. Khi bản án có hiệu lực thì tài sản bảo đảm thường đã bị suy giảm giá trị hoặc hư hỏng, dẫn đến việc ngân hàng ưu tiên các biện pháp thỏa thuận khai thác nợ (cơ cấu lại thời hạn trả nợ, đôn đốc khách hàng tự nguyện trả tiền) để tối ưu hóa thời gian và chi phí.
5. Cơ cấu tổ chức của Agribank Tân Yên bộc lộ điểm hạn chế nào trong công tác xử lý nợ xấu?
Chi nhánh hiện chỉ có 4 bộ phận chuyên môn gồm: Phòng Giao dịch, Phòng Tổng hợp, Phòng Kế hoạch - Kinh doanh và Phòng Kế toán - Ngân quỹ. Đơn vị chưa có Phòng Pháp lý chuyên trách, do đó công tác xử lý nợ xấu phần lớn dựa vào kinh nghiệm nghiệp vụ thuần túy của cán bộ tín dụng, dẫn đến nguy cơ tiềm ẩn sai sót khi áp dụng các quy định pháp luật phức tạp về giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thúy Hằng đã làm rõ cơ sở lý luận về nợ xấu và hệ thống hóa khung pháp luật xử lý nợ xấu trong hoạt động ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Thông qua việc khảo sát dữ liệu thực tế tại Agribank Chi nhánh huyện Tân Yên giai đoạn 2018 - 2020, công trình chỉ rõ những khó khăn đặc thù trong việc cơ cấu nợ, xử lý tài sản bảo đảm và các vướng mắc khi thực thi Nghị quyết 42/2017/QH14 tại địa bàn nông thôn. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các định hướng sửa đổi quy định pháp luật chuyên ngành, kiến nghị luật hóa các chính sách xử lý nợ xấu và giải pháp thành lập bộ phận pháp lý chuyên trách tại chi nhánh cấp huyện.