CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 1. Lịch sử hình thành công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên trên thế giới và Việt Nam Khác với loại hình công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn là sản phẩm hoạt động lập pháp theo sáng kiến của nhà lập pháp Đức 1892 các nhà luật học của Đức đã đưa ra mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn với những lập luận sau: Thứ nhất: Mô hình công ty cổ phần đang tồn tại không thích hợp với mô hình kinh tế nhỏ, các quy định quá phức tạp đối với công ty cổ phần thật không cần thiết và không phù hợp với các loại công ty vừa và nhỏ, có rất ít thành viên. Thứ hai: Chế độ trách nhiệm vô hạn của công ty đối nhân không phù hợp với tất cả các nhà đầu tư. Nhiều nhà đầu tư muốn được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn để tránh được rủi ro, biết hạn chế rủi ro là một yếu tố quan trọng để thành đạt trong kinh doanh, do đó các nhà làm luật Đức đã sáng tạo ra loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, vừa kết hợp được ưu điểm về chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty và ưu điểm về chế độ thành viên quen biết nhau của công ty đối nhân, nhà đầu tư có thể kinh doanh vừa và nhỏ, nó khắc phục được nhược điểm về sự phức tạp khi thành lập và điều hành công ty cổ phần, nhược điểm không phân chia được rủi ro của công ty đối nhân nhưng nó vẫn mang bản chất của công ty đối vốn đó là công ty có tư cách pháp nhân độc lập, chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản của công ty, thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của mình vào công ty.
Với những ưu điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn, nên sau khi có luật công ty trách nhiệm hữu hạn năm 1892 của Đức được ban hành thì loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn đã được các nhà đầu tư lựa chọn, và từ đó số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn không ngừng tăng lên. Ở Việt Nam từ năm 1986 Đảng ta đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước, cùng với chính sách kinh tế đó đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các loại hình công ty. Ngày 21/12/1990 Quốc hội thông qua Luật công ty. Tuy nhiên sau một thời gian đi vào thực tế áp dụng thì luật công ty đã bộc lộ những thiếu sót nhất định, chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế.
Ngày 12/06/1999, Quốc hội đã 5 thông qua Luật doanh nghiệp thay thế cho Luật doanh nghiệp Nhà Nước và Luật công ty. Đây được xem là văn bản ghi nhận chi tiết và khá đầy đủ về các loại hình doanh nghiệp trong đó có loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cũng đã được đề cập khá chi tiết (được quy định tại mục 2 Chương 3 Luật doanh nghiệp 1999). Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một loại hình doanh nghiệp mới được quy định trong quá trình phất triển của pháp luật thương mại Việt Nam. Tuy nhiên Luật doanh nghiệp 1999 chỉ cho phép một tổ chức được quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Ngày 12/12/2005 Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp 2005 thay thế cho Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp Nhà Nước và Luật đầu tư Nước ngoài tại Việt nam. Luật doanh nghiệp 2005 quy định việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Luật doanh nghiệp 2005 có một điểm mới nổi bật so với Luật doanh nghiệp 1999: Đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Luật doanh nghiệp 2005 đã cho phép cá nhân có thể trở thành chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Cùng với sự ra đời của Luật doanh nghiệp 2005 ghi nhận cá nhân có thể trở thành chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã và đang đóng vai trò quan trọng nhằm đa dạng hóa cơ cấu chủ sở hữu công ty (trước đây chỉ có chủ sở hữu là tổ chức có tư cách pháp nhân) của loại hình doanh nghiệp này.
Luật Doanh nghiệp năm 2014 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 8, ngày 26/11/2014, có hiệu lực kể từ 01/7/2015 ,được coi là một bước đột phá mới về thể chế, có ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Doanh nghiệp năm 2005, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới nhằm tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thông thoáng cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư được tự do kinh doanh, đầu tư các lĩnh vực mà pháp luật không cấm theo đúng tinh thần Hiến pháp 2013. Luật DN năm 2020 được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2020 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 và thay thế Luật DN năm 2014. Luật Doanh nghiệp năm 2020 ra đời với nhiều thay đổi so với luật Doanh nghiệp 2014, tác động trực tiếp đến việc thành lập doanh nghiệp, quản lý cũng như tổ chức hoạt động của một doanh nghiệp. Năm 2020, Luật Doanh nghiệp đã kịp thời được sửa đổi, bổ sung những 6 điều khoản và quy định mới nhằm phù hợp hơn với thực tế đang diễn ra đối với doanh nghiệp, đồng thời, tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật cũ, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp hơn với xu hướng toàn cầu.
Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp cập nhật thông tin một cách kịp thời và chính xác theo quy định của pháp luật, Tóm lại: Hiện nay hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn rất phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là mô hình lý tưởng để kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ, chúng có ưu điểm là tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh mạnh dạn đầu tư vào các ngành và lĩnh vực có khả năng rủi ro nhiều, thu hồi vốn chậm. Ngoài ra loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã tạo điều kiện cho những người có số vốn vừa và nhỏ có cơ hội làm chủ doanh nghiệp tạo ra được lợi nhuận từ đồng vốn của mình, hiện nay mô hình công ty này được các nhà kinh doanh ưa chuộng. Thực tế mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đang rất phổ biến ở Việt Nam 1.
Khái niệm về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tại điều 74 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về khái niệm Công ty TNHH một thành viên như sau: “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một chủ cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty”. Thực tiễn kinh doanh ở nước ta các doanh nghiệp Nhà Nước, các doanh nghiệp của tổ chức chính trị xã hội về bản chất cũng được tổ chức và hoạt động giống như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (một chủ sở hữu). Luật doanh nghiệp năm 1999 chỉ quy định công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức: Luật doanh nghiệp 2005 đã phát triển và mở rộng cả cá nhân cũng có quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc loại hình công ty đối vốn có tư cách pháp nhân, nhưng không được quyền phát hành cổ phiếu. Còn đối với người nước ngoài tại Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài thì họ được quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và họ sẽ họ sẽ hoạt động theo luật khuyến khích đầu tư trong nước và luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công ty trách nhiệm một thành viên có những đặc điểm pháp lý sau đây: Thứ nhất: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Trừ trường hợp tổ chức hoặc cá nhân không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo Khoản 2 Điều 17 của Luật doanh nghiệp.
Đây là một đặc điểm nổi bật của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Điểm nổi bật nhất được thể hiện ở loại hình doanh nghiệp này chính là “Cá nhân có quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lần đầu tiên được thừa nhận trong Luật doanh nghiệp 2005 mà trước đó Luật doanh nghiệp 1999 vẫn còn bỏ ngỏ. Đến hiện tại quy định này vẫn được kế thừa. Chủ sở hữu công ty bao gồm/và là nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về năng lực pháp luật, năng lực hành vi kinh doanh.
Đặc điểm này cũng là cơ sở pháp lý để phân biệt với DNTN khi chủ sở hữu DNTN là một cá nhân. Chủ sở hữu công ty được thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. Thứ hai: Chủ thể có quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân hay pháp nhân độc lập thì họ phải thoả mãn các điều kiện về năng lực chủ thể, họ hoàn toàn có quyền nhân danh mình khi tham gia các quan hệ kinh tế.