CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở THƯƠNG MẠI HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI 1. Khái niệm thế chấp nhà ở thương mại hình thành trong tương lai 1. Định nghĩa và đặc điểm của nhà ở thương mại hình thành trong tương lai 1.
Định nghĩa nhà ở thương mại hình thành trong tương lai Tài sản không những là một trong những thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến và gần gũi đối với cuộc sống hàng ngày của con người mà nó còn là đối tượng quan trọng trong các giao dịch dân sự. Tài sản còn có ý nghĩa rất to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Nó được dùng để tạo nên rất nhiều sản phẩm, từ những sản phẩm thiết yếu, nhu yếu phẩm cho đến các sản phẩm vật chất hiện đại, có giá trị sử dụng. Tài sản là một khái niệm rất rộng, có thể được hiểu theo nhiều ý nghĩa khác nhau.
Trước hết, có thể hiểu “tài sản” là các điều kiện vật chất để nuôi sống con người, “tài sản” còn là các vật chất khác do con người tạo ra, chiếm hữu và sử dụng 1 nhằm duy trì, bảo vệ cuộc sống và phát triển. Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm tài 2 sản được hiểu là “của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng”. Trong từ điển Hán – Việt, “tài sản” được ghép bởi hai từ “tài” và “sản”. “Tài” là tiền bạc, của cải, vật chất có giá trị kinh tế.
“Sản” là sự sinh sôi, sản sinh mà ở trong 3 trường hợp cụ thể này là sự sinh ra các lợi ích. Theo đó, có thể hiểu tài sản là tiền bạc, của cải, lợi ích vật chất có giá trị kinh tế và có khả năng sinh lợi. Dưới góc độ triết học, tài sản là một bộ phận của thế giới vật chất, đó có thể là những lợi ích vật chất tồn tại trong thế giới thực do con người tìm thấy trong tự nhiên hoặc các sản phẩm xã hội được con người chế tạo, có giá trị kinh tế, phục vụ cho các nhu cầu của con người mà con người có thể làm chủ, chi phối được. Dưới góc độ kinh tế - pháp lý, theo nghĩa hẹp, tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, gồm các tài nguyên đã được con người khai phát, các sản phẩm do con người làm ra hoặc các lợi ích khác có giá trị sử dụng mà con người có thể hưởng thụ để 4 thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình.
1 Phùng Trung Tập (2017), “Chế độ tài sản trong Bộ luật Dân sự 2015”, Tạp chí kiếm sát, (03), Tr. 2 Nguyễn Như Ý (CB), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb, VH-TT, Hà Nội, năm 1999, tr. 3 Đào Duy Anh, Hán – Việt Từ điển, (Phan Bội Châu hiệu đính), Nxb. VH-TT, Hà Nội, tái bản năm 2005, tr.
4 Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, PGS. TS Lê Minh Hùng, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 10 Dưới góc độ Luật học, khái niệm tài sản lần đầu tiên được quy định tại Điều 172 Bộ luật dân sự năm 1995: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”. Đến Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
Theo pháp luật hiện hành, Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định về khái niệm tài sản như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Có thể nói, đây là khái niệm được Bộ luật dân sự định nghĩa rất rõ ràng và riêng biệt. So với quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005 thì quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 được định nghĩa dưới dạng mô tả chứ không phải liệt kê và nêu rõ định dạng từng loại tại sản là “vật”, “tiền”, “quyền tài sản”, “giấy tờ có giá”. Mặt khác, theo tinh thần của Bộ Luật Dân sự năm 2005 và 2015 thì khái niệm tài sản được mở rộng hơn so với quy định năm 1995, cụ thể tài sản bao gồm cả những vật có thực và những vật sẽ có trong tương lai.
Vật có thực là vật đã tồn tại vào thời điểm đang xét đến và đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của vật đó, ví dụ: ngôi nhà ở đã xây xong và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Còn vật hình thành trong tương lai được hiểu là vật chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét nhưng chắc chắn sẽ có trong tương lai, ví dụ: tiền lương sẽ được hưởng, dự án nhà ở cao tầng đang trong quá trình xây dựng,. Sự mở rộng khái niệm tài sản đã làm cho giá trị pháp lý của khái niệm này được xác định ở phạm vi rộng hơn, từ đó đối tượng của giao dịch dân sự hợp pháp cũng được mở rộng hơn theo hướng đa dạng, phù hợp với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường nhiều thành phần của nước ta. Trong pháp luật của các nước, rất hiếm có quy định trực tiếp về định nghĩa tài sản.
Ngay cả Bộ luật Dân sự của Pháp, một trong những hình mẫu của BLDS của nhiều quốc gia trên thế giới, cũng không trực tiếp đưa ra khái niệm tài sản là gì, mặc dù trong một dự án gần đây khi sửa đổi BLDS Pháp, các học giả có đề xuất đưa khái niệm tài sản vào trong BLDS sửa đổi. Tuy vậy, có một vài BLDS của các nước có đề cập đến định nghĩa về tài sản, chẳng hạn Điều 654 BLDS của bang California (Hoa Kỳ) định nghĩa: “…Trong Bộ luật này, vật mà có thể sở hữu được gọi là tài sản”. Theo Điều 899 BLDS của Québec (Canada): “Tài sản, hoặc hữu hình hoặc vô hình, được chia thành bất động sản và động sản”. Điều 99 BLDS và Thương mại Thái 11 Lan quy định: “Tài sản bao gồm những vật cũng như các đối tượng không cụ thể, có 5 thể có một giá trị và có thể chiếm dụng được”.
6 Tài sản bao gồm tài sản hiện có và tài sản HTTTL. Tài sản hiện có là những tài sản “có thực” và đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu đối với tài sản đó. Nghĩa là, tại thời điểm giao dịch tài sản đã hình thành và đã được công nhận quyền sở hữu đối với tài sản. Tài sản HTTTL là những tài sản chưa tồn tại tại thời điểm giao dịch.
Nhà ở là một loại tài sản, những giao dịch về nhà ở ngoài chịu sự điều chỉnh của pháp luật về tài sản còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về nhà ở, pháp luật kinh doanh bất động sản và các quy định pháp luật có liên quan. Khái niệm “nhà ở” được định nghĩa tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Pháp luật về dân sự định nghĩa nhà ở là một loại bất động sản và là đối tượng của những giao dịch dân sự 7 về mua bán nhà ở, tặng cho nhà ở, cho thuê nhà ở hoặc thế chấp nhà ở ,. Theo pháp luật về xây dựng thì nhà ở có thể được hiểu là sản phẩm được xây dựng theo thiết kế, tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt 8 đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước.
Pháp luật về nhà ở định nghĩa nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ 9 gia đình, cá nhân. Đặc biệt, Luật Nhà ở 2014 đã định nghĩa chi tiết, cụ thể các loại nhà ở như nhà ở riêng lẻ, nhà chung cư, nhà ở thương mại, nhà ở công vụ, nhà ở để phục vụ tái định cư, nhà ở xã hội, trong đó nhà ở thương mại hiện nay đang được quan tâm và đem lại lợi ích cao về mặt kinh tế cho các chủ thể khác nhau. Theo đó, nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua 10 theo cơ chế thị trường. Có thể hiểu, nhà ở thương mại là các căn hộ được xây dựng bởi chủ đầu tư nhằm mục đích bán hoặc cho thuê, cho thuê mua trong đó các bên giao dịch sẽ tự quyết định về vấn đề giá cả.
5 Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2019), tlđd (4), tr. 6 Khoản 2 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015. 7 Khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bất động sản bao gồm đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật”. 8 Khoản 10 Điều 3 Luật xây dựng năm 2014, sửa đổi, bổ sung bởi Điểm c Khoản 1 Điều 1 Luật xây dựng năm 2020.
9 Khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014. 10 Khoản 4 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014. 12 Đối với các văn bản luật trước đây, khái niệm “nhà ở thương mại hình thành trong tương lai” chưa được nêu cụ thể mà chỉ quy định các khái niệm liên quan đến các giao dịch mua bán, chuyển nhượng nhà ở HTTTL mà không xác định cụ thể được khái niệm thế nào là nhà ở thương mại hình thành trong tương lai. Cụ thể, tại Điều 39 Luật nhà ở năm 2005 quy định: “Trường hợp chủ đầu tư huy động vốn từ tiền ứng trước của người có nhu cầu mua hoặc thuê nhà ở thì chỉ được áp dụng trong trường hợp thiết kế nhà ở đã được phê duyệt và đã được xây dựng xong phần móng.
Tổng số tiền huy động trước khi bàn giao nhà ở cho người có nhu cầu không được vượt quá 70% giá trị nhà ở ghi trong hợp đồng. Khoản 8 Điều 4 Luật kinh doanh bất động sản năm 2006 quy định: “8. Mua bán nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai là việc mua bán nhà, công trình xây dựng mà tại thời điểm ký hợp đồng, nhà, công trình xây dựng đó chưa hình thành hoặc đang hình thành theo hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công và tiến độ cụ thể.