CHƯƠNG 1 CTCP là một trong những loại hình công ty ưu việt nhất hiện nay để huy động vốn kinh doanh. Một trong hai nguồn hình thành và huy động vốn vô cùng quan trọng là tạo lập vốn từ chủ sở hữu. Có thể thấy rằng vốn chủ sở hữu là nguồn vốn quan trọng hàng đầu của mọi doanh nghiệp. Nó có yếu tố để đánh giá sức mạnh về tài chính của doanh nghiệp.
Và nó cũng là căn cứ quan trọng để quyết định khả năng huy động các nguồn vốn khác của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu là phương tiện để công ty thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cũng là nguồn chính để thực hiện trách nhiệm thanh toán các khoản nợ. Chính bởi tầm quan trọng như vậy, pháp luật đã can thiệp và điều chỉnh việc tạo lập vốn chủ sở hữu của CTCP để đảm bảo hoạt động huy động vốn này được minh bạch, an toàn, bảo vệ tốt cho quyền lợi của các chủ thể liên quan, đặc biệt là chủ sở hữu công ty. Pháp luật giữ vai trò điều chỉnh tất cả các hoạt động liên quan, bao gồm tất cả các hoạt động và cách thức hình thành và tạo lập nên vốn chủ sở hữu.
Các hình thức tạo lập vốn chủ sở hữu CTCP bao gồm vốn điều lệ, thặng dư vốn, quỹ của doanh nghiệp, lợi nhuận chưa phân phối và một số nguồn khác như chênh lệch đánh giá lại tài sản,… sẽ được tác giả nghiên cứu và trình bày kỹ hơn ở Chương 2 của Luận văn này. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TẠO LẬP VỐN CHỦ SỞ HỮU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 2. Quy định pháp luật về vốn điều lệ 2. Xác định vốn điều lệ Thời điểm thành lập CTCP, các cổ đông sáng lập sẽ thống nhất về vốn điều lệ của công ty, mệnh giá cổ phần và tổng số lượng cổ phần tương ứng với vốn điều lệ và số cổ phần các cổ đông sẽ đăng ký mua.
Cá nhân, tổ chức có nhu cầu và năng lực tài chính đều có thể trở thành một cổ đông của CTCP. Tính chịu trách nhiệm hữu hạn trong CTCP cũng góp phần tạo ra tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư vì đây chính là giới hạn rủi ro tài chính của các cổ đông trong toàn bộ số vốn đã đầu tư vào công ty. Vốn điều lệ là một con số được tính theo chỉ số tiền đồng. Chẳng hạn, các cổ đông quyết định công ty có 1 triệu cổ phần (phần) và mệnh giá cổ phần là 10.000 đồng, thì vốn điều lệ được tính là 10 tỉ đồng.
Để hình thành nên vốn điều lệ, công ty sẽ phát hành cổ phần. Trường hợp CTCP được thành lập có quy mô và phạm vi lớn, cổ phần phát hành sẽ do các cổ đông sáng lập và nhà đầu tư nắm giữ (cổ đông). Nếu công ty có quy mô nhỏ, cổ phần được phát hành chỉ do các cổ đông sáng lập nắm giữ. Như vậy, khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, có thể bao gồm cổ đông sáng lập và cổ đông thường hoặc chỉ bao gồm cổ đông sáng lập.
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp các cổ đông sáng lập phải đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán khi đăng ký thành lập doanh nghiệp (khoản 2 Điều 120 của Luật Doanh nghiệp 2020). Điều 112 cũng quy định thêm một số khái niệm liên quan đến cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập và trong quá trình hoạt động của CTCP cần được lưu ý. Bảng dưới đây sẽ trình bày một cách dễ hiểu các khái niệm như sau: Khái niệm Tại thời điểm công ty Tại thời điểm công ty thành lập đã hoạt động (trong vòng 90 ngày kể từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận 19 đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN)) Cổ phần được Cổ phần mà Đại hội Cổ phần công ty sẽ chào bán để quyền chào bán đồng cổ đông huy động vốn, gồm: (khoản 3 Điều 112) (ĐHĐCĐ) quyết định - Cổ phần đã được đăng ký mua chào bán để huy động - Cổ phần chưa được đăng ký mua vốn Cổ phần chưa bán - Cổ phần được quyền - Cổ phần chưa được đăng ký mua (khoản 4 Điều 112) chào bán; và - Chưa được thanh toán Cổ phần đã bán - Cổ phần được quyền - Cổ phần đã được đăng ký mua (khoản 2 Điều 112) chào bán; và - Đã được thanh toán đủ Bảng 2. Một số khái niệm liên quan đến cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập và trong quá trình hoạt động của CTCP Nói một cách dễ hiểu, vốn điều lệ tại thời điểm thành lập là tổng số cổ phần (do cổ đông sáng lập và cổ đông khác đăng ký mua trong vòng 90 ngày kể từ thời điểm CTCP được thành lập) nhân với mệnh giá cổ phần.
Khi công ty đã đi vào hoạt động, vốn điều lệ là cổ phần đã bán (phát hành) nhân với mệnh giá. Để tránh hiểu lầm, vốn điều lệ CTCP không bao gồm giá trị của số cổ phần được quyền chào bán. Xét trên phương diện kế toán, Điều 67 của Thông tư số 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 22 tháng 12 năm 2014 về hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp quy định về nguyên tắc và nội dung phản ánh của tài khoản vốn đầu tư của chủ sở hữu trong danh mục hệ thống tài khoản kế toán hiện hành. Theo đó, tài khoản 411 – vốn đầu tư của chủ sở hữu phản ánh vốn do chủ sở hữu đầu tư hiện có và tình hình tăng, giảm vốn đầu tư của chủ sở hữu.
Theo điểm c khoản 1 Điều này, doanh nghiệp chỉ được hạch toán vào tài khoản 411 theo số vốn thực tế chủ sở hữu đã góp, không ghi nhận theo số cam kết, số phải thu của các chủ sở hữu. Như vậy, so sánh với Luật Doanh nghiệp, quy định nói trên là trùng khớp. Điểm h khoản 1 Điều 67 cũng quy định riêng cho CTCP rằng vốn góp cổ phần của các cổ đông được ghi theo giá thực tế phát hành cổ phiếu. Vốn góp của chủ sở hữu được phản ánh theo mệnh giá của cổ phiếu đồng thời được theo dõi chi tiết theo hai phạm vi là cổ 20 phiếu phổ thông có quyền biểu quyết (tài khoản 41111) và cổ phiếu ưu đãi (tài khoản 41112).
Công ty phải kế toán chi tiết riêng hai loại cổ phiếu ưu đãi: (1) Cổ phiếu ưu đãi được phân loại là vốn chủ sở hữu nếu người phát hành không có nghĩa vụ phải mua lại cổ phiếu ưu đãi đó; (2) Cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả nếu bắt buộc người phát hành phải mua lại cổ phiếu ưu đãi đó tại một thời điểm đã được xác định trong tương lai và nghĩa vụ mua lại cổ phiếu phải được ghi rõ ngay trong hồ sơ phát hành tại thời điểm phát hành cổ phiếu. Ta thấy rằng, pháp luật về kế toán chia vốn thực góp của chủ sở hữu (vốn điều lệ) thành hai loại là cổ phiếu phổ thông (là loại có quyền biểu quyết) và cổ phiếu ưu đãi (chỉ gồm cổ phiếu ưu đãi được phân loại là vốn chủ sở hữu, phân biệt với cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả). Đối với các CTCP vừa và nhỏ, tại Điều 51 Thông tư 133/2016/TT- BTC của Bộ Tài chính ngày 26 tháng 8 năm 2016 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng quy định tương tự như trên. Trong mối tương quan so sánh với pháp luật doanh nghiệp, có thể thấy rằng có một số điểm khác biệt.
Trước tiên là cách sử dụng thuật ngữ không thống nhất giữa pháp luật doanh nghiệp và pháp luật kế toán. Luật Doanh nghiệp chỉ sử dụng cụm “cổ phần phổ thông”, “cổ phần ưu đãi”, “cổ phiếu của cổ phần phổ thông”, hoặc “cổ phiếu của cổ phần ưu đãi”. Ngược lại, pháp luật kế toán sử dụng cụm “cổ phiếu” để chỉ cổ phần, giống với pháp luật chứng khoán. Hơn nữa, cả hai Thông tư về kế toán doanh nghiệp nói trên đều sử dụng cụm từ “cổ phiếu phổ thông có quyền biểu quyết”; trong khi, theo quy định tại Luật Doanh nghiệp, mọi cổ đông nắm giữ cổ phần phổ thông đều có quyền biểu quyết.
Như vậy, việc phân biệt cổ phiếu (cổ phần) phổ thông có quyền biểu quyết và không có quyền biểu quyết dường như là thừa trong các quy định về kế toán. Ngoài ra, tác giả xin lưu ý rằng, hiện nay, Luật Doanh nghiệp 2020 đã có thêm quy định mới liên quan đến “chứng chỉ lưu ý chứng khoán không có quyền biểu quyết”, loại chứng chỉ này có thể sẽ bị nhầm lẫn là loại cổ phần phổ thông không có quyền biểu quyết, bởi “cổ phần phổ thông được dùng làm tài sản cơ sở để phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết được gọi là cổ phần phổ thông cơ sở” (khoản 6 Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2020). Tuy nhiên, “cần khẳng định rằng bản 21 thân NVDR (tức chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết) không phải là cổ phần, người sở hữu chúng không phải cổ đông và việc có phát hành chứng chỉ lưu 3 ký hay không sẽ không ảnh hưởng đến vốn điều lệ của công ty cổ phần”. Như đã đề cập, về phương diện kế toán, công ty phải kế toán chi tiết riêng hai loại cổ phiếu ưu đãi: (1) Cổ phiếu ưu đãi được phân loại là vốn chủ sở hữu.
Trong trường hợp này, đối chiếu với quy định về các loại cổ phiếu ưu đãi tại Điều 116, 117 Luật Doanh nghiệp 2020, loại cổ phiếu ưu đãi là vốn chủ sở hữu chính là cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi biểu quyết; và (2) Cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả. Đây là loại cổ phần ưu đãi hoàn lại theo quy định của Điều 118 Luật Doanh nghiệp 2020. Mệnh giá cổ phần Pháp luật Việt Nam chưa có quy định định nghĩa chính thức thế nào là mệnh giá cổ phần do đó, cũng đã phát sinh nhiều cách hiểu khi nói đến giá trị mệnh giá. “Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 đều chỉ quy định vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, hai đạo luật này và những văn bản hướng dẫn đều không quy định mệnh giá là bao nhiêu, nên có thể hiểu mệnh giá chính là giá trị mỗi cổ phần, mà mỗi cổ phần đều bằng nhau nên chỉ có một mệnh giá thống nhất.
Nhưng mệnh giá đó pháp luật không quy định là bao nhiêu, nên mỗi CTCP sẽ tự xác định mệnh giá tùy thuộc vào việc phân chia vốn điều 4 lệ” .