Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về lao động chưa thành niên và thực tiễn tại tỉnh Thanh Hóa" do sinh viên Bàn Lê Thu Phương (MSSV: 452540) thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2024, thuộc chuyên ngành Pháp luật Kinh tế, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Thị Mùi.

Về bối cảnh thực tiễn, tính đến ngày 01/01/2021, Việt Nam đã gia nhập 25 công ước về quyền lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có hai công ước cơ bản về lao động trẻ em là Công ước số 138 (về tuổi lao động tối thiểu) và Công ước số 182 (về các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất). Hệ thống pháp luật quốc gia, đặc biệt là Bộ luật Lao động năm 2019, đã ghi nhận nhiều điểm mới nhằm mở rộng phạm vi bảo vệ người lao động chưa thành niên (CTN) sang khu vực kinh tế phi chính thức, chuẩn hóa điều kiện công việc, nơi làm việc và nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên (Điều 144). Tuy nhiên, trên thực tế tại nhiều địa phương, tình trạng vi phạm như sử dụng lao động chưa thành niên làm công việc nặng nhọc, độc hại, làm việc quá thời giờ luật định, trả thiếu lương vẫn tồn tại. Nguyên nhân xuất phát từ việc người sử dụng lao động (NSDLĐ) muốn tận dụng nhân công giá rẻ, trong khi bản thân người lao động chưa thành niên và gia đình gặp khó khăn kinh tế nên phải tham gia thị trường lao động sớm dù thiếu hiểu biết pháp luật.

Tại tỉnh Thanh Hóa, theo Báo cáo thống kê của Tổng cục Thống kê năm 2022, đây là địa phương có diện tích tự nhiên lớn thứ 5 cả nước (11.129,48 km²) và quy mô dân số đứng thứ 3 cả nước với hơn 3,7 triệu người. Mật độ dân số đông đảo tạo ra sức ép lớn về giải quyết việc làm đối với người lao động nói chung và lao động chưa thành niên nói riêng. Dù chính quyền địa phương đã triển khai nhiều giải pháp, công tác quản lý, giám sát và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đối tượng lao động đặc thù này trên địa bàn vẫn còn nhiều hạn chế.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận và điều chỉnh pháp luật về lao động chưa thành niên; phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành tại tỉnh Thanh Hóa, chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trên địa bàn tỉnh. Để đạt mục đích trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích và nghiên cứu những vấn đề lý luận về lao động chưa thành niên và nội dung điều chỉnh pháp luật về lao động chưa thành niên.
  2. Phân tích, làm rõ thực trạng pháp luật về lao động chưa thành niên và thực tiễn thi hành tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa; qua đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
  3. Luận giải yêu cầu hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên; kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định pháp luật lao động trong Bộ luật Lao động năm 2019 về lao động chưa thành niên, các văn bản hướng dẫn thi hành và các đạo luật liên quan (Luật Trẻ em năm 2016, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015), có đối chiếu với Bộ luật Lao động năm 2012 và hai điều ước quốc tế cơ bản của ILO (Công ước số 138 và Công ước số 182).

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Nội dung: Tác giả giới hạn nghiên cứu ở 3 nhóm chế định: (i) Quy định tạo cơ sở, tiền đề và thiết lập quan hệ lao động; (ii) Quy định trong quá trình thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động; (iii) Quy định về thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp liên quan đến lao động chưa thành niên.
  • Chủ thể và quan hệ xã hội: Khóa luận tiếp cận lao động chưa thành niên theo nghĩa hẹp, tức người dưới 18 tuổi làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận để được trả công, hưởng lương, chịu sự quản lý, giám sát của NSDLĐ (quan hệ lao động làm công ăn lương).
  • Không gian và thời gian: Địa bàn tỉnh Thanh Hóa, tập trung vào số liệu và thực tiễn thi hành giai đoạn 2020–2022 và các mốc thống kê cập nhật đến năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên việc tiếp cận khái niệm người chưa thành niên và lao động chưa thành niên từ góc độ đa ngành:

  • Góc độ từ điển và ngôn ngữ học: Tham chiếu Longman Dictionary of Business English (J.D. Adam) và Black's Law Dictionary (Bryan Garner), xác định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi hoặc trẻ em.
  • Góc độ sinh học: Khảo cứu nghiên cứu của TS. Trần Thắng Lợi (2010), chỉ ra độ tuổi từ 15 đến dưới 18 tuổi là giai đoạn cơ thể đang trong quá trình hoàn thiện thể chất, cơ bắp, xương khớp và hệ thần kinh, tâm lý còn bồng bột, dễ bị tác động bởi môi trường bên ngoài.
  • Góc độ pháp luật quốc tế: Tiếp cận Công ước về Quyền trẻ em năm 1989 của Liên Hợp Quốc, Bản quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (1990), Công ước ILO số 138 (1973), Công ước ILO số 182 (1999) và Khuyến nghị số 126 (1962).
  • Góc độ pháp luật Việt Nam: Phân tích sự chuyển dịch lập pháp từ Bộ luật Lao động năm 1994 (Điều 119 quy định người lao động dưới 18 tuổi), Bộ luật Lao động năm 2012 (Điều 163, Điều 164) đến Bộ luật Lao động năm 2019 (khoản 1 Điều 3 và Điều 143 thay cụm từ "dưới 18 tuổi" bằng "chưa đủ 18 tuổi" nhằm đồng bộ kỹ thuật lập pháp với Bộ luật Dân sự năm 2015).

Tác giả đúc kết 3 nguyên tắc pháp lý điều chỉnh lao động chưa thành niên:

  1. Tôn trọng quyền được tham gia vào thị trường lao động của người lao động chưa thành niên.
  2. Bảo vệ người lao động chưa thành niên thông qua các tiêu chuẩn tối thiểu và tối đa trên cơ sở độ tuổi, đồng thời khuyến khích các thỏa thuận có lợi hơn so với quy định pháp luật.
  3. Bảo vệ người lao động chưa thành niên trong mối quan hệ tương quan với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NSDLĐ.

Khóa luận cũng sử dụng các chuẩn mực pháp lý quốc tế để so sánh kinh nghiệm: Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công bằng Hoa Kỳ (FLSA) về giấy phép lao động của Cục Học nghề và Đào tạo thuộc Bộ Lao động Mỹ cho độ tuổi 16-18; Điều 36 Luật Lao động Jordan về hợp đồng học nghề bằng văn bản; Điều 65 Bộ luật Lao động Liên bang Nga và Điều 13 Bộ luật Lao động Afghanistan về căn cứ xác định độ tuổi; pháp luật Latvia và Nepal về giới hạn thời giờ làm việc.

Phương pháp luận của khóa luận dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin (phép biện chứng duy vật và duy vật lịch sử). Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:

  • Phương pháp phân tích quy phạm và phân tích số liệu: Áp dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ nội dung điều luật và các chỉ số thống kê.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: So sánh quy định qua các thời kỳ (BLLĐ 1994, 2012, 2019) và pháp luật các quốc gia nhằm rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp chứng minh: Sử dụng các vụ việc thực tế và tài liệu thống kê làm căn cứ cho các luận điểm.
  • Phương pháp tổng hợp và dự báo khoa học: Đưa ra nhận định tổng quát và đề xuất các nhóm kiến nghị khả thi.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm: Báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2022; Điều tra các chỉ số mục tiêu phát triển bền vững về trẻ em và phụ nữ Việt Nam (SDGCW) giai đoạn 2020–2021; Báo cáo tổng kết công tác năm 2022 và phương hướng nhiệm vụ năm 2023 của UBND tỉnh Thanh Hóa; Số liệu thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thanh Hóa (thời điểm 30/6/2021); Kế hoạch số 200/KH-UBND ngày 07/09/2021 của UBND tỉnh Thanh Hóa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về lao động chưa thành niên và điều chỉnh pháp luật về lao động chưa thành niên

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về người lao động chưa thành niên và bản chất của việc điều chỉnh pháp luật đối với nhóm chủ thể này:

  • Đặc điểm của lao động chưa thành niên: Tác giả nhấn mạnh hai đặc điểm cơ bản. Thứ nhất, đây là nhóm lao động chưa hoàn thiện về mặt thể chất và tâm lý (dễ bị kiệt sức, tổn thương lâu dài nếu làm việc nặng nhọc, độc hại; tâm lý nhạy cảm, dễ bị lôi kéo nếu làm việc trong môi trường phức tạp như quán nhậu, quán bar, vũ trường). Thứ hai, nhóm này được pháp luật bảo vệ ở mức độ cao hơn thông qua cơ chế ưu tiên về tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và giới hạn phạm vi công việc được phép tuyển dụng.
  • Phân loại lao động chưa thành niên: Được tác giả phân chia theo 3 tiêu chí: (i) Căn cứ vào độ tuổi: người dưới 13 tuổi (chỉ được làm việc nghệ thuật nhẹ nhàng), người từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi (làm công việc nhẹ theo danh mục), người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi (được giao kết hầu hết công việc trừ công việc độc hại, nguy hiểm); (ii) Căn cứ vào trình độ chuyên môn kỹ thuật: người đã qua đào tạo và người chưa qua đào tạo nghề; (iii) Căn cứ vào điều kiện, môi trường làm việc: làm việc trong điều kiện bình thường và làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
  • Nội dung điều chỉnh pháp luật: Bao quát các quy định từ khâu tiền đề thiết lập quan hệ lao động (việc làm, học nghề, giao kết HĐLĐ); quá trình thực hiện và chấm dứt (tiền lương tối thiểu theo vùng, trả lương trực tiếp, nguyên tắc trả lương ngang bằng với lao động thành niên nếu cùng công việc; thời giờ làm việc rút ngắn; an toàn vệ sinh lao động, lập sổ theo dõi y tế; kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất); đến cơ chế thanh tra, xử lý vi phạm hành chính và giải quyết tranh chấp lao động (ưu tiên hòa giải, trọng tài và thủ tục khởi kiện tại tòa án).

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về lao động chưa thành niên và thực tiễn thi hành tại tỉnh Thanh Hóa

Chương 2 là phần trọng tâm, kết hợp phân tích kỹ thuật lập pháp với thực trạng thi hành trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa:

  • Quy định pháp luật hiện hành:
    • Về quyền học tập: Điểm b khoản 1 Điều 145 BLLĐ năm 2019 yêu cầu NSDLĐ phải bố trí giờ làm việc không ảnh hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi (đảm bảo hoàn thành phổ cập trung học cơ sở). Điều 144 quy định trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe, học tập của người lao động.
    • Về giới hạn công việc: Khoản 3 và khoản 4 Điều 143 BLLĐ năm 2019 kết hợp Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH (Phụ lục II) quy định công việc nhẹ cho người từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi (diễn viên, vận động viên, lập trình phần mềm, làm nghề thủ công truyền thống: chấm men gốm, cưa vỏ trai, làm giấy, làm nón lá). Người dưới 13 tuổi chỉ được làm công việc nghệ thuật, thể thao khi có sự đồng ý của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (khoản 3 Điều 145). Người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi bị cấm làm việc theo Điều 147 BLLĐ năm 2019 (mang vác nặng, sản xuất kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá, kinh doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử). Tác giả chỉ ra nhược điểm của Thông tư 09 là mới dừng ở hình thức liệt kê, chưa bao quát được các ngành nghề đặc thù tại các vùng miền.
    • Về giao kết hợp đồng và thời giờ làm việc: Điểm a khoản 1 Điều 145 bắt buộc HĐLĐ với người chưa đủ 15 tuổi phải ký bằng văn bản giữa NSDLĐ với người lao động và người đại diện theo pháp luật. Điều 146 quy định thời giờ làm việc của người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi không quá 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần; người chưa đủ 15 tuổi không quá 04 giờ/ngày và 20 giờ/tuần; cấm làm thêm giờ và ban đêm với người chưa đủ 15 tuổi; nghỉ hàng năm 14 ngày (hưởng nguyên lương, nhiều hơn 02 ngày so với lao động thành niên theo Điều 113).
    • Về an toàn y tế và chế tài: Khoản 3 Điều 144 BLLĐ năm 2019 yêu cầu NSDLĐ lập sổ theo dõi riêng; Luật ATVSLĐ năm 2015 quy định khám sức khỏe định kỳ 06 tháng/lần. Về chế tài, Điều 29 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1 - 2 triệu đồng đối với hành vi không lập sổ theo dõi riêng; phạt từ 20 - 25 triệu đồng đối với các hành vi không có sự đồng ý của người giám hộ, không ký HĐLĐ bằng văn bản, bố trí giờ làm ảnh hưởng học tập, không khám sức khỏe 06 tháng/lần, làm việc quá giờ; phạt từ 50 - 75 triệu đồng đối với hành vi sử dụng lao động làm công việc ngoài danh mục cho phép hoặc nơi làm việc bị cấm (mức phạt tổ chức gấp 2 lần cá nhân).
    • Về giải quyết tranh chấp: Điều 69 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định người dưới 15 tuổi phải qua người đại diện hợp pháp khi khởi kiện; người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi đã tham gia lao động được tự mình tham gia tố tụng.
  • Thực tiễn tại tỉnh Thanh Hóa:
    • Số liệu thực trạng: Tính đến cuối tháng 6/2021, toàn tỉnh có 936.972 trẻ em dưới 16 tuổi, trong đó 4,36% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tình trạng lao động sớm xuất hiện nhiều ở nông thôn và các huyện miền núi với các công việc: phục vụ quán ăn sáng, quán cà phê, cây xăng, quảng trường; trẻ lang thang đánh giày, bán dạo tăm bông, kẹo cao su. Vụ việc học sinh thực tập bị sử dụng làm công nhân tại Trường Trung cấp Nghề Bỉm Sơn được Sở Lao động - Thương binh và Xã hội can thiệp xử lý.
    • Kết quả đạt được: UBND tỉnh Thanh Hóa ban hành Kế hoạch số 200/KH-UBND ngày 07/09/2021 về phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định giai đoạn 2021–2025, định hướng 2030. Từ năm 2020 đến nay, các cấp đã mở 20 lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật cho 700 lượt thanh niên nông thôn; tổ chức hơn 40 buổi tư vấn nghề nghiệp cho trên 10.000 lượt thanh niên; tư vấn giới thiệu việc làm cho 8.608 lượt; kết nối 10.100 lượt thanh niên vào các doanh nghiệp và đưa 168 người đi xuất khẩu lao động.
    • Tồn tại, hạn chế: Nhận thức của doanh nghiệp và gia đình còn hạn chế; việc thanh tra, kiểm tra chưa đồng bộ, còn tình trạng doanh nghiệp biết trước lịch kiểm tra để che giấu vi phạm; quy trình xử lý vi phạm còn chậm trễ; gia đình khó khăn buộc trẻ em phải lao động sớm; thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý.
    • Nguyên nhân: Tỉnh có địa bàn rộng, dân số đông (hơn 3,7 triệu người) dẫn đến thiếu nhân lực và phương tiện kiểm tra vùng sâu, vùng xa; nhận thức pháp luật thấp; điều kiện kinh tế nghèo khó của nhiều hộ gia đình; chế tài xử lý thiếu tính răn đe kịp thời.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về lao động chưa thành niên tại tỉnh Thanh Hóa

Dựa trên cấu trúc chương trình nghiên cứu và kết luận chương, tác giả xây dựng định hướng hoàn thiện:

  • Yêu cầu hoàn thiện: Phải phù hợp với các nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về người lao động chưa thành niên, phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế (các công ước ILO).
  • Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Nhóm quy định về tạo cơ sở, tiền đề và thiết lập quan hệ lao động: Cần bổ sung các tiêu chí định tính vào danh mục công việc nhẹ thay vì chỉ liệt kê cứng nhắc tại Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH; bổ sung quy định cụ thể về thời gian làm việc đối với lao động dưới 13 tuổi làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục thể thao.
    • Nhóm quy định trong quá trình thực hiện và chấm dứt HĐLĐ: Siết chặt quy định về thời giờ làm việc ban đêm, danh mục cho phép làm thêm giờ đối với nhóm từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi; hoàn thiện cơ chế kiểm soát khám sức khỏe định kỳ 06 tháng/lần.
    • Nhóm quy định về thanh tra, chế tài và giải quyết tranh chấp: Bổ sung thẩm quyền thanh tra chuyên đề đối với khu vực kinh tế phi chính thức, hộ kinh doanh gia đình; đơn giản hóa thủ tục tiếp cận cơ quan tài phán cho người lao động chưa thành niên.
  • Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Thanh Hóa:
    • Tăng cường chính sách kinh tế hỗ trợ hộ nghèo, giảm áp lực kinh tế khiến trẻ em phải bỏ học đi làm sớm.
    • Cải thiện điều kiện và môi trường làm việc tại các làng nghề truyền thống và cơ sở sản xuất kinh doanh địa phương.
    • Thúc đẩy giáo dục, phân luồng học nghề và định hướng nghề nghiệp sớm cho học sinh.
    • Đẩy mạnh truyền thông đa phương tiện nhằm nâng cao nhận thức của NSDLĐ và cộng đồng dân cư.
    • Tăng cường thanh tra đột xuất, giám sát liên ngành và xử lý nghiêm minh các vi phạm che giấu lao động chưa thành niên.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp, đối chiếu các chỉ số pháp lý và số liệu thực tiễn tại địa phương, được khái quát qua bảng số liệu sau:

Tiêu chí Căn cứ pháp lý / Văn bản quy định Số liệu, mức chuẩn quy định Thực tiễn ghi nhận tại tỉnh Thanh Hóa
Quy mô dân số & trẻ em Báo cáo Tổng cục Thống kê 2022; Sở LĐ-TB&XH Thanh Hóa (6/2021) Thanh Hóa có diện tích lớn thứ 5 cả nước (11.129,48 km²); dân số > 3,7 triệu người (thứ 3 cả nước) Toàn tỉnh có 936.972 trẻ em dưới 16 tuổi; tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 4,36%
Thời giờ làm việc LĐCTN Điều 146 Bộ luật Lao động năm 2019 - Từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi: Max 8h/ngày, 40h/tuần
- Chưa đủ 15 tuổi: Max 4h/ngày, 20h/tuần
Tồn tại tình trạng làm việc quá giờ quy định tại các quán ăn sáng, quán cà phê, cây xăng, dịch vụ tự do
Chế độ nghỉ hàng năm Khoản 1 Điều 113 Bộ luật Lao động năm 2019 Nghỉ 14 ngày hưởng nguyên lương (cao hơn 02 ngày so với lao động thành niên) Khu vực phi chính thức và hộ kinh doanh cá thể hầu như không ký HĐLĐ bằng văn bản, không áp dụng chế độ phép năm
Mức xử phạt hành chính NSDLĐ Điều 29 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP - Phạt 1 - 2 triệu đồng: Không lập sổ theo dõi
- Phạt 20 - 25 triệu đồng: Không có sự đồng ý của cha mẹ, không ký HĐLĐ văn bản, làm quá giờ, không khám sức khỏe định kỳ
- Phạt 50 - 75 triệu đồng: Sử dụng làm công việc/nơi làm việc bị cấm
Đã phát hiện và can thiệp vụ việc sai phạm tại Trường Trung cấp Nghề Bỉm Sơn; tuy nhiên việc thanh kiểm tra còn bị động do doanh nghiệp đối phó khi biết trước lịch
Kết quả giải quyết việc làm & đào tạo Kế hoạch số 200/KH-UBND; Báo cáo UBND tỉnh (giai đoạn 2020–2024) Triển khai Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định 2021–2025, định hướng 2030 - Mở 20 lớp KHKT cho 700 lượt thanh niên
- Tổ chức >40 buổi tư vấn cho >10.000 lượt
- Giới thiệu việc làm cho 8.608 lượt
- 10.100 thanh niên vào doanh nghiệp; 168 người xuất khẩu lao động

Về đóng góp học thuật, khóa luận khắc phục khoảng trống của các công trình trước đây (như nghiên cứu của Lê Việt Hà năm 2006, Lê Thị Huyền Trang năm 2008, Trần Thắng Lợi năm 2012, Nguyễn Thị Nhàn năm 2016, Nguyễn Thể Hùng năm 2018, Nguyễn Thị Thanh Thủy năm 2020 hay Phạm Đức Tôn năm 2021). Các nghiên cứu tiền nhiệm chủ yếu dựa trên khung khổ Bộ luật Lao động năm 1994 hoặc 2012. Công trình này cập nhật trực tiếp hệ thống pháp luật mới gồm Bộ luật Lao động năm 2019, Nghị định số 12/2022/NĐ-CP và Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH, đồng thời gắn lý luận với dữ liệu thực chứng tại một địa bàn cấp tỉnh có quy mô dân số và áp lực việc làm lớn là Thanh Hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế nhất định xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và nguồn dữ liệu:

  • Nguồn số liệu thực tế tại tỉnh Thanh Hóa chủ yếu dựa trên báo cáo hành chính thứ cấp của Tổng cục Thống kê, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và UBND tỉnh; chưa tổ chức được các cuộc điều tra xã hội học trực tiếp bằng bảng hỏi hoặc phỏng vấn sâu với các nhóm lao động chưa thành niên tại các hộ kinh doanh cá thể, làng nghề truyền thống.
  • Khóa luận mới tập trung vào quan hệ lao động làm công ăn lương theo nghĩa hẹp, chưa đi sâu giải quyết các dạng thức lao động tự do, lao động giúp việc gia đình không hưởng lương.
  • Về hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo sát thực tế tại các huyện miền núi đặc thù của tỉnh Thanh Hóa (như Quan Hóa, Mường Lát, Bá Thước); nghiên cứu sâu hơn cơ chế thanh tra liên ngành và chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động chưa thành niên trong khu vực kinh tế phi chính thức.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Pháp luật Kinh tế, Luật Lao động và An sinh xã hội, làm tài liệu tham khảo về phương pháp xây dựng luận điểm, phân tích kỹ thuật lập pháp của Bộ luật Lao động năm 2019 và kỹ năng xử lý số liệu địa phương.
  • Cán bộ nghiên cứu và giảng viên: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên đề về quyền trẻ em và bảo vệ các nhóm lao động yếu thế trong thị trường lao động.
  • Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra Lao động tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh có quy mô dân số tương đương có thể tham khảo các kiến nghị về thanh tra đột xuất, mô hình tư vấn hướng nghiệp và chính sách an sinh xã hội cho hộ nghèo nhằm ngăn ngừa lao động trẻ em trái luật.

Các phần có giá trị tham khảo cao nhất gồm: Bảng tổng hợp mức phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 12/2022/NĐ-CP; phần phân tích danh mục công việc nhẹ theo Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH; và phần đánh giá thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Thanh Hóa theo Kế hoạch số 200/KH-UBND.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận định nghĩa người lao động chưa thành niên theo Bộ luật Lao động năm 2019 như thế nào và có điểm gì khác so với các bộ luật trước?
Theo Điều 143 kết hợp với khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Khác với Bộ luật Lao động năm 1994 và 2012 dùng cụm từ "dưới 18 tuổi", luật năm 2019 dùng cụm từ "chưa đủ 18 tuổi" để thống nhất kỹ thuật lập pháp với Bộ luật Dân sự năm 2015.

Pháp luật hiện hành quy định thời giờ làm việc tối đa của lao động chưa thành niên theo từng độ tuổi ra sao?
Căn cứ Điều 146 Bộ luật Lao động năm 2019, thời giờ làm việc của người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi không được quá 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần. Thời giờ làm việc của người chưa đủ 15 tuổi không được quá 04 giờ/ngày và 20 giờ/tuần; đồng thời cấm tuyệt đối bố trí người chưa đủ 15 tuổi làm thêm giờ hoặc làm việc vào ban đêm.

Mức xử phạt hành chính đối với hành vi sử dụng lao động chưa thành niên sai quy định theo Nghị định số 12/2022/NĐ-CP là bao nhiêu?
Nghị định số 12/2022/NĐ-CP quy định 3 khung phạt tiền chính đối với cá nhân NSDLĐ: từ 1 - 2 triệu đồng nếu không lập sổ theo dõi riêng; từ 20 - 25 triệu đồng đối với các hành vi không có sự đồng ý của cha mẹ/giám hộ, không giao kết HĐLĐ bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi, bố trí giờ làm ảnh hưởng học tập, không khám sức khỏe định kỳ 06 tháng/lần, làm việc quá giờ; từ 50 - 75 triệu đồng đối với hành vi sử dụng người lao động làm công việc ngoài danh mục cho phép hoặc nơi làm việc bị cấm. Mức phạt đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân.

Thực trạng lao động trẻ em tại tỉnh Thanh Hóa được khóa luận phản ánh qua những con số thống kê cụ thể nào?
Tính đến cuối tháng 6/2021, tỉnh Thanh Hóa có 936.972 trẻ em dưới 16 tuổi, trong đó 4,36% có hoàn cảnh đặc biệt. Tình trạng lao động sớm diễn ra tại các huyện miền núi và đô thị với các công việc quán ăn, quán cà phê, cây xăng, bán dạo, đánh giày. Ở chiều hướng hỗ trợ, từ năm 2020, tỉnh đã mở 20 lớp KHKT cho 700 thanh niên, tư vấn nghề nghiệp cho hơn 10.000 lượt và giải quyết giới thiệu việc làm cho 8.608 lượt thanh niên.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật về lao động chưa thành niên tại Thanh Hóa là gì?
Khóa luận chỉ ra 4 nguyên nhân: (1) Địa bàn rộng (hơn 11.129 km²), dân số đông (hơn 3,7 triệu người) khiến nguồn lực và cơ sở hạ tầng thanh tra không đủ bao quát vùng sâu, vùng xa; (2) Nhận thức pháp luật của NSDLĐ, gia đình và bản thân các em còn hạn chế; (3) Hoàn cảnh kinh tế gia đình nghèo khó buộc trẻ em phải lao động sớm kiếm sống; (4) Quy trình thanh tra, xử phạt vi phạm còn chậm trễ, thiếu đồng bộ và chưa đủ sức răn đe.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bàn Lê Thu Phương là công trình nghiên cứu chuyên ngành Pháp luật Kinh tế có kết cấu chặt chẽ, kết hợp hài hòa giữa cơ sở lý luận, kỹ thuật lập pháp và thực tiễn thi hành. Công trình đã làm rõ các điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019, đối chiếu với tiêu chuẩn quốc tế của ILO và bám sát bức tranh thực tế tại tỉnh Thanh Hóa thông qua các số liệu thống kê cụ thể. Các đề xuất hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và giải pháp quản lý địa phương được xây dựng có căn cứ khoa học, mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho công tác nghiên cứu, giảng dạy luật lao động và thực thi chính sách an sinh xã hội.