Chương 1: Cơ sở lý luận về lao động chưa thanh niên và điều chỉnh pháp luật về lao động chưa thành miên. Chương 2: Thực trang pháp luật về lao động chưa thành niên va thực tiễn thi hành tại tinh Thanh Hóa Chương 3: Một sé giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về lao động chưa thảnh niên tại tĩnh Thanh Hóa. CƠ SƠ LÝ LUẬN VE LAO ĐỘNG CHUA THÀNH NIÊN VÀ DIEU CHINH PHÁP LUAT VE LAO BONG CHUA THÀNH NIÊN 111. Khái quát chung về lao động chưa thành niên 1.
Khai niém lao động chua thành: miên “Người chưa thành niên” là thuật ngữ được nghiên cứu, sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như. luật hoc, ngôn ngữ hoc, sinh học, nhân trắc học,. Dựa vào mục đích tiếp cận và đặc thù của mỗi lĩnh vực nên việc định nghĩa “ngudi chưa thành niên” sẽ được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Ở góc độ ngôn ngữ học, môt sô từ điển thông dung đã lay đô tuôi 18 là giới han tôi đa để xác định người chưa thành niên, ví du điển hình là Tử điển Longman Dictionary of Business English của JD Adam định nghia “zgười chua thành nién là người đưới 18 tuổi "3 hay Từ dién theo từ điển điển Black's Law Dictionary của Bryan.Gamer định nghĩa ”igười chia thành nién là trễ em và trễ ern là người đưới 18 tôi ”t.
Theo ngành sinh học, người chưa thành niên được zác định là những người trong độ tudi tir 15 tuổi đến đưới 18 tuổi. Theo ngành sinh học, đây là giai đoạn trong cuộc đời con người đang trải qua qua trình hoàn thiện và chin muôi về mặt thé chất. Trong giai đoạn nảy, đa số nam và nữ đã trải qua giai đoạn day thi, nhưng van cân "hoản thiện" các qua trình phát triển và khắc phục tình trạng mắt cân đối do sự chin mudi không đông đêu. Đền cuối giai đoạn nay, trong hau hết các trường hợp, các quá trình chin mudi sinh học cơ bản đã được hoan thiện đến mức có thể coi là thuộc tính của chu ky người trưởng thànhÝ Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ người chưa thành niên được sử dụng nhằm xác định giới han về quyên, nghĩa vụ pháp lý doi với đối tương đặc thù nay.
Khi đưa ra khái niệm lao động CTN, pháp luật quốc tế không dựa hoàn toản, trực tiếp vào đặc điểm tâm sinh ly hay sự phát triển thé chat, tinh thân ma trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua viéc xác định đô tuôi. Cụ thể người chưa ` TH Adam, Longman Dictionary of Business ,BSc(ECON) London, Libraz du Lb.Gamar, Black’s Law Dictionary, Second edition, AThomson Company. Ý Tin Thing Lợi (2010), Hoàn tian pháp luật vé lao động chua thành miền trong điện hội nhập quốc tế, Luận in Tiên sĩ,tr 15. eA thảnh niên có giới hạn là người dưới 18 tuổi.
Như vây, các nhà luật học sử dụng thuật ngữ nay dé đê cập đến một nhóm đặc thù và thông qua đó có những quy định cụ thé và phủ hop, phân biệt nhóm đôi tương nay với các nhóm đôi tượng khác. Đôi với lao động CTN, ngoài việc được xác định thông qua phương pháp xác định tudi như ngành ngôn ngữ học hay sinh hoc, thì ở dưới góc độ pháp lý, lao động CTN cần được xác định qua các đặc điểm vả giới hạn pham vi doi tương cũng như điều kiên, tinh chất của đối tượng nay. Về khái niệm lao đông CTN trên thê giới, theo Công ước về quyên trẻ em năm 1080 của Liên hợp quoc® và Công ước số 182 năm 1999 của Tô chức lao đông quốc tế (ILO)’ về loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tôi tệ nhất không đưa ra khai niệm “Jao động chưa thành: niên ” ma đưa ra khái niệm “lao động trẻ em”. Theo đỏ, “trẻ ein được xác đinh là người dưới mười tám tôi, trừ Rìủ pháp luật quốc gia công nhận tuôi thành niên sớm hơn”.
Bên cạnh đó tại Bản quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người CTN bị tước quyền tu do được Đại hội đồng Liên hop quốc thông qua ngay 14/12/1990 có quy định: “ người chưa thành niên là người đưới 18 tuôi. Giới han đười tudi nay cần phải được pháp luật xác dinh và không được tước quyén tự do của người chưa thành niên ”Š Có thé thay thông qua hai khái niệm trên, ILO sử dụng khải niệm “ao động trẻ em” còn đôi với bản quy tắc của Liên hợp quốc lại sử dung cum từ “lao động chưa thành niên”. nhưng xét về nôi dung của hai khái niệm nay trong hoản cảnh, lĩnh vực nhật định như luật pháp có thé coi hai khái niêm nay có ý nghĩa tương đương nhau. Điển hình tại các quốc gia đã thông qua và nội luật hóa công ước của ILO đã quy định rằng người lao động dưới 18 tudi là lao động trẻ em như 2 công ước trên như pháp luật Vương Quéc Anh, Malaixia,.
Nhưng cũng có cái quốc gia lại sử dụng thuật ngữ lao động chưa thành niên đối với đôi tương nay như Slovakia, Thuy Điển, Trung Quốc, Tai Việt Nam, BLLD đâu tiên của nước ta năm 1994 đã quy định về khái niệm lao đông CTN, theo đó tại Điều 119 đã quy định: “Người lao động chưa °btpclfrwwr tcef org seta keene: wac- hop-quoc-ve-cuyen-tre-eas. Lia truy cấp ngày 37/2/2034. Tips:eebarepivgint com cong he, 18 nu -1090-nghiem-cam -ve-Ham dong: Mean. cap-xoa-bo-cac-huiihthnc-}no- dong tre-en-tontenhathnal muy cap ngiy 272202.
*_ Tetps /Afaw iemptuphut mvvm-bav Lahm -huc/Quy-tac-coa-Limhop-quoc-ve-bao-vengno:-duw-thnhnin-bi- trọc-tu. 1090-2758 0 ase, truy cáo ngày 37/2/2034. thành niên là người lao động dưới 18 tuỗi”. BULĐ năm 2012 vẫn giữ nguyên khái niệm về lao động CTN như Bô luật Lao động 1994, nhưng trong Bo luật nay đã có sự phân loại đôi với đối tượng lao động này, điêu đó thể hiện rõ tại Điều 163 quy định về nguyên tắc sử dụng lao động la người CTN và Điêu 164 quy định về sử dung lao đông đưới 15 tudi.
Điêu này thé hiện rằng pháp luật Việt Nam tại thời điểm nảy đã có sự quan tâm tới đôi tương đặc thù nảy. Tại BLLĐ 2019 đã có sự thay đôi về từ ngữ trong khái niệm về lao động CTN, theo đó tại Điều 143 có quy định về khai niệm lao đông chưa thành niên: “Lao động chưa thành niên ia người lao đông chưa di lê tuôi ” Thay vì sử dụng thuật ngữ "dưới 18 tuổi” như 2 bộ luật trước thì BLLD năm 2019 lại sử dụng thuật ngữ “chưa đủ” để thay thé. Việc thay đổi trong việc sử dụng thuật ngữ này có thể hiểu rằng pháp luật đang đồng nhất về mặt kỹ thuật lập pháp, dam bao sự thông nhật về mặt ngữ nghĩa nhằm phù hop với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 Như vậy, kết hợp với định nghĩa về người lao động tại Khoản 1 Điều 3 Bô luật Lao động năm 2019, có thé hiểu: Lao đông cinea thành niên là người chưa di 18 tôi, làm việc cho người sit dung lao động theo thoa thuận, duoc trả lương và chin sự quan If, điều hành, giám sát của người sử dung lao động. Đặc diém của lao động chia thành niên So với NLD đã thảnh niên, có thể thây lao động chưa thành niên có một sô đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, lao đông chưa thanh niên la những lao động chưa phát triển đây đủ vé mặt thé chat và tâm lý.
Đặc điểm chưa hoàn thiên về mặt thé chat: Đặc điểm nay được thé hiện thông qua việc lao động CTN đang trong giai đoạn tăng trưởng về chiều cao, trong lương, sự phát trién của cơ, mrong,. Những đặc điểm nảy chính là điểm dẫn đến sự khác biệt giữa lao động CTN và các nhóm lao động khác. Như vậy, trong đô tudi dang phát triển nay, lao động CTN phải thực hiên các công việc có tính chất nguy hiểm, nặng nhọc, độc hai có thé sé gây ảnh hưởng xấu tới quá trình phát triển thé chat của họ, đắc biệt là các công việc độc hại hoặc nặng nhọc sé có thé gây ra các biển chứng lâu dai đôi với cơ thể. 3 Đặc điểm chưa hoàn thiện về mặt tâm lý: Vé đặc điểm tâm ly của lao động CTN sẽ đi cùng với sự phát triển về mặt thể chất, nhưng biểu hiện của việc phát triển tâm ly trong giai đoạn nay khá phức tap, trong giai đoạn này tam lý của lao động CTN sẽ khá nhạy cảm và dé bi ảnh hưởng bởi mdi trường xung quanh.
Chính vì vậy, môi trường là yếu tô quan trong trong việc phát triển của ho, do đỏ nêu lao đông CTN được lam việc trong môi trường lành mạnh, lịch sự, là nơi mà họ có thé phát triển thé mạnh vả cai ‘tdi’ cao của mình thì sự phat triển về tâm lý của họ có thể diễn ra theo hướng ngay cảng tốt đẹp hơn. Nhưng nếu ngược lại, trong độ tuổi bông bột, thiểu chin chan nảy lao động CTN tiếp xúc nhiêu với những môi trường không lảnh manh như các quán nhậu, bar, pub,. thi rất có thé NLD sẽ hình thành những dang tinh cách, tâm lý không lành mạnh, thê giới quan lệch lạc, ảnh hưởng xau tới sự phát triển về mặt tâm lý về sau. Thứ hai, lao động CTN được pháp luật bao vệ ở mức độ cao hơn so với nhóm người lao động ở tuôi thành niên: Đặc điểm này xuất phát từ góc độ sinh học, do lao động chưa thành niên đang trong quá trình phát triển về thể chất và trí lực, vi vây khi tham gia QHLĐ ho được pháp luật bảo vệ theo hưởng “ưu tiên” trong việc được hưởng một số quyền, lợi ích ngang bang hoặc hơn những quyền, lợi ích ma pháp luật quy định.
Điều nay thể hiện qua một sô quy định về tiên lương, thời giờ lam việc, thời giờ nghĩ ngơi. Tại các quy định nay thé hiện rõ sự ưu tiên của pháp luật đối với lao dong CTN. Bên cạnh do việc ưu tiên bảo vệ của pháp luật với đôi tượng nảy còn được thể hiện ở các quy định về giới hạn công việc ma lao đông CTN có thé lam, điều này không phải đang giới hạn tiêu cực về việc lựa chọn công việc của NLĐ, không phải quy định đi ngược lai với quy tắc tự do lựa chọn nghé nghiệp mà quy định nay đang tạo ra phạm vi công việc ma lao đông CTN nên làm trong đô tudi nay, bên cạnh đó việc đất ra giới hạn về công việc đối với nhóm lao động nay góp phan lớn trong việc phòng tránh trường hop NSDLD lợi dụng người lao động CTN làm các công việc nang nhọc, nguy hiểm. Phân loại lao động chia thành: nién 10 Hiện nay có rat nhiều cách để phân loại lao đông chưa thành niên, mỗi cách phân loại déu dựa trên tiêu chí và mục đích khác nhau.