Luận văn về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate

Luận văn phân tích pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty cổ phần công nghệ G Gate, cung cấp cái nhìn thực tiễn và ứng dụng.

Trường đại học

Đại học Thương mại

Tác giả

Lê Thị Thảo

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

59
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá

1.1.1. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hoá

1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá

1.1.3. Phân loại hợp đồng mua bán hàng hoá

1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hoá

1.2.1. Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hoá

1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hoá

1.2.3. Một số nguyên tắc pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hoá

1.2.3.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá
1.2.3.2. Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ G-GATE

2.1. Tổng quan về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá của Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate và các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá tại công ty

2.1.1. Tổng quan về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá của Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate

2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate

2.2. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hoá

2.2.1. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá

2.2.2. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá

2.2.3. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh về sửa đổi và chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hoá

2.2.4. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hoá

2.3. Thực tiễn thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hoá tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate

2.3.1. Thực tiễn thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá

2.3.2. Thực tiễn thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá

2.3.3. Thực tiễn thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh trong quá trình sửa đổi và chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hoá

2.3.4. Thực tiễn thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh trong quá trình giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hoá

2.4. Đánh giá chung về việc áp dụng và thực hiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate

2.4.1. Những thành tựu và thuận lợi trong quá trình áp dụng và thực hiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate

2.4.2. Những khó khăn và hạn chế trong quá trình áp dụng và thực hiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ

3.1. Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hoá

3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hoá

3.2.1. Kiến nghị đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

3.2.2. Kiến nghị đối với Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate

3.2.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần Công nghệ G Gate

Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate đã khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phần quan trọng trong hoạt động kinh doanh của công ty. Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa cung cấp khung pháp lý cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia. Việc hiểu rõ các quy định này không chỉ giúp công ty thực hiện giao dịch hiệu quả mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

1.1. Khái niệm và vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa là thỏa thuận giữa các bên về việc chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hóa. Vai trò của hợp đồng này rất quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, từ đó tạo ra sự minh bạch trong giao dịch.

1.2. Các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa

Pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng về hợp đồng mua bán hàng hóa trong Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005. Những quy định này giúp các bên hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, từ đó giảm thiểu rủi ro trong giao dịch.

II. Vấn đề và thách thức trong thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại G Gate

Mặc dù Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate đã có những thành công nhất định, nhưng việc áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa vẫn gặp nhiều thách thức. Sự thiếu hiểu biết về quy định pháp luật có thể dẫn đến những rủi ro không đáng có trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng.

2.1. Những khó khăn trong việc giao kết hợp đồng

Nhiều nhân viên tại G-Gate chưa nắm rõ các quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa. Điều này dẫn đến việc giao kết hợp đồng không đầy đủ hoặc không chính xác, gây khó khăn trong việc thực hiện.

2.2. Thách thức trong việc thực hiện hợp đồng

Việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại G-Gate thường gặp khó khăn do thiếu sự phối hợp giữa các bộ phận. Điều này có thể dẫn đến việc chậm trễ trong giao hàng hoặc không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.

III. Phương pháp giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại G Gate

Để giảm thiểu rủi ro và tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa, Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate cần áp dụng các phương pháp giải quyết tranh chấp hiệu quả. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của công ty mà còn duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng.

3.1. Thương lượng và hòa giải

Thương lượng và hòa giải là phương pháp đầu tiên mà G-Gate nên áp dụng khi xảy ra tranh chấp. Việc này giúp các bên tìm ra giải pháp hợp lý mà không cần phải đưa vụ việc ra tòa án.

3.2. Giải quyết tranh chấp qua trọng tài

Nếu thương lượng không thành công, G-Gate có thể lựa chọn giải quyết tranh chấp qua trọng tài. Phương pháp này giúp tiết kiệm thời gian và chi phí so với việc kiện tụng tại tòa án.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại G Gate

Nghiên cứu thực tiễn về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate cho thấy nhiều điểm mạnh và điểm yếu trong việc áp dụng pháp luật. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp công ty cải thiện quy trình giao kết và thực hiện hợp đồng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.

4.1. Đánh giá thực trạng hợp đồng mua bán hàng hóa

Thực trạng cho thấy G-Gate đã có những hợp đồng thành công, nhưng cũng tồn tại nhiều hợp đồng chưa được thực hiện đúng quy định. Việc đánh giá này giúp công ty nhận diện được các vấn đề cần khắc phục.

4.2. Kết quả nghiên cứu và đề xuất cải tiến

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc nâng cao nhận thức về pháp luật cho nhân viên là rất cần thiết. Công ty cần tổ chức các khóa đào tạo để giúp nhân viên hiểu rõ hơn về hợp đồng mua bán hàng hóa.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho G Gate

Việc nghiên cứu pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp công ty khắc phục những khó khăn hiện tại mà còn định hướng cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức pháp luật

Nâng cao nhận thức về pháp luật cho nhân viên là yếu tố quan trọng giúp G-Gate thực hiện hợp đồng hiệu quả hơn. Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của công ty mà còn tạo dựng uy tín trong mắt khách hàng.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Công ty cần xây dựng một chiến lược phát triển bền vững, trong đó chú trọng đến việc cải thiện quy trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa. Điều này sẽ giúp G-Gate duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Luận văn đại học thương mại pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần công nghệ g gate

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá 1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hoá Dưới góc nhìn của LTM 2005, mua bán hàng hoá được quy định là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận. Như vậy, mua bán hàng hoá được hiểu là việc trao đổi hàng hoá giữa bên có hàng hoá và bên có nhu cầu mua hàng hoá trên cơ sở tự nguyện, thoả thuận ý chí giữa các bên. Việc mua bán hàng hoá này được thực hiện dưới hình thức hợp đồng và được gọi là hợp đồng mua bán hàng hoá. Hiện nay, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu thể hiện bằng các loại hợp đồng bởi hợp đồng chính là công cụ pháp lý quan trọng để họ thiết lập và thực hiện các giao dịch nhằm thoả mãn hầu hết mọi nhu cầu trong đời sống xã hội.

Cụ thể khái niệm về hợp đồng nói chung đã được đề cập trong BLDS 2015. Tại Điều 385 của BLDS 2015 đưa ra khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia thoả thuận.” Nghĩa là hợp đồng được xây dựng dựa trên sự thoả thuận tự nguyện của các chủ thể đồng thời trên căn cứ thoả thuận sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết. Cũng trong BLDS 2015 tại Điều 430 đã đưa ra khái niệm cụ thể về hợp đồng mua bán tài sản: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán” Như vậy có thể thấy, mua bán hàng hoá thực chất là một dạng của mua bán tài sản nên có bản chất giống như mua bán tài sản theo quy định của BLDS. Đó đều là việc bên bán chuyển quyền sở hữu hàng hoá/tài sản cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có quyền sở hữu đối với hàng hoá/tài sản đã mua và có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán.

Không những vậy, mua bán hàng hoá và mua bán tài sản đều thể hiện thông qua hình thức hợp đồng. LTM 2005 không đề cập tới khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hoá , do đó căn cứ vào khái niệm hợp đồng trong BLDS 2015 và khái niệm mua bán hàng hoá trong LTM 2005 nói trên, ta có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thoả thuận giữa các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận. Hợp đồng này 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải thoả mãn về hình thức được quy định tại Khoản 1 Điều 24 LTM 2005 và phải thoả mãn về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá. Đó là hàng hoá được phép mua bán theo quy định của pháp luật.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá Hợp đồng mua bán hàng hoá vừa có bản chất chung của hợp đồng trong BLDS lại vừa mang trong mình những đặc điểm riêng để phân biệt với các loại hợp đồng khác.

Hợp đồng mua bán hàng hoá có các đặc điểm như sau: Xét về đặc điểm chung, hợp đồng mua bán hàng hoá có sự thỏa thuận giữa các bên. Sự thỏa thuận phải thể hiện sự tự nguyện thiện chí và thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia mới có thể hình thành hợp đồng, nếu chỉ là ý chí của một bên thì đó hành vi pháp lý đơn phương. Các bên tự do trong việc thể hiện ý chí của mình, hướng đến lợi ích của các bên đồng thời không xâm phạm lợi ích chính đáng mà pháp luật cần bảo vệ. Đồng thời, hợp đồng mua bán hàng hoá còn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý: xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ mua bán.

Cụ thể là bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản/hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán và có quyền sở hữu đối với tài sản/hàng hoá đã mua. Xét về đặc điểm riêng, hợp đồng mua bán hàng hoá mang những đặc trưng sau: Thứ nhất về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hoá chủ yếu được thiết lập giữa các thương nhân. Một bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá phải là thương nhân. Chủ thể còn lại của hợp đồng mua bán hàng hoá là thương nhân hoặc có thể không phải là thương nhân.

Thương nhân có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài. Tuy nhiên theo quy định của LTM 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc lập và có đăng kí kinh doanh. Để thực hiện hoạt động thương mại, thương nhân cần đáp ứng những yêu cầu nhất định về vốn, tư cách pháp lý và một số điều kiện nghề nghiệp để triển khai hoạt động thương mại thường xuyên, độc lập trên thị trường. Thứ hai về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá chính là hàng hoá.

Dưới góc độ thông thường, hàng hoá là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi và mua bán nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của con người. Hàng hoá dưới góc độ của LTM 2005 có xu hướng mở rộng hơn đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai. Điểm khác biệt nhất định của hàng hoá trong hợp đồng mua bán hàng hoá được nhắc tới ở đây chính là hàng hoá phải được phép giao dịch, không nằm trong đối tượng hàng hoá bị cấm theo quy định của pháp luật. Điều 25 của LTM 2005 đã quy định rõ về hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh có điều kiện.

Dựa vào đó để xác định đúng đối tượng của loại hợp đồng này. Hàng hoá được mua bán trao đổi có thể là hàng hoá đang hiện hữu hoặc có thể là hàng hoá sẽ hình thành trong tương lai được phép lưu thông trên thị trường. Mỗi đối tượng đều có hình thức trao đổi khác nhau song vẫn phải tuân theo nguyên tắc chung trong hợp đồng mua bán hàng hoá. Thứ ba về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá.

Hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong đó có bên mua và bên bán trong quan hệ mua bán. Cụ thể là bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán. Ngược lại, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận. Nội dung của hợp đồng chứa đựng các điều khoản được ghi nhận trong hợp đồng thông thường bao gồm các điều khoản: Tên hàng, số lượng, chất lượng/phẩm chất, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao hàng ….

Ngoài ra, các bên còn có thể thỏa thuận về các điều khoản khác của hợp đồng để đảm bảo quyền lợi cho các bên nếu có tranh chấp xảy ra như: nơi giải quyết tranh chấp, phương thức giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, số lượng điều khoản, loại điều khoản không phải là điều kiện để vô hiệu hợp đồng. Các điều khoản của hợp đồng phải phù hợp với pháp luật, điều khoản nào mà trái pháp luật thì điều khoản đó sẽ vô hiệu. Nói cách khác, nội dung hợp đồng không thể là điều kiện để hợp đồng vô hiệu toàn phần.

Mặt khác cần chú ý, do loại hợp đồng này có đặc điểm là các bên đều nhằm đến mục tiêu lợi nhuận nên đòi hỏi nội dung của hợp đồng phải đầy đủ, rõ ràng, tránh những hiểu lầm dẫn đến tranh chấp. Vì vậy, các bên cần chú ý thận trọng trong quá trình soạn thảo nội dung của hợp đồng. Thứ tư về hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá phải được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể của các chủ thể tham gia hợp đồng. Về nguyên tắc, các bên được tự do lựa chọn hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá tuy nhiên trong một số trường hợp ngoại lệ, đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì bắt buộc các bên giao kết phải tuân theo quy định đó.

Nói cách khác, điều kiện về hình thức của hợp đồng chỉ áp dụng cho một số loại hợp đồng mà pháp luật quy định cụ thể về hình thức chứ không phải áp dụng cho tất cả các hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là một ví dụ điển hình nhất, hợp đồng này phải được thực hiện trên cơ sở văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. LTM 2005 quy định đa dạng về các hình thức thể hiện của hợp đồng mua bán hàng hoá nhưng các bên nên kí kết hợp đồng bằng văn bản. Bởi vậy mà ngày này các doanh nghiệp thường ưu tiên ký kết hợp đồng văn bản bằng hình thức văn bản bởi việc giao kết hợp đồng dưới hình thức này mang tính đảm bảo cao và ít gặp rủi ro trong kinh doanh hơn so với 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hình thức khác.

Đây chính là cơ sở pháp lí rõ ràng để các bên xem xét thực hiện đúng, đầy đủ hợp đồng hay không đồng thời cũng là căn cứ pháp lí để cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đó. Thứ năm, hành vi của các chủ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa có tính chất hành vi thương mại. Đặc biệt, trong quan hệ này, có ít nhất một trong các bên tham gia hợp đồng hướng tới mục đích tìm kiếm và tạo ra lợi nhuận từ việc mua bán hàng hoá hay còn gọi là nhằm mục đích sinh lời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ