Chương 1 CO SỞ LÝ LUẬN VÈ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THẺ VÈ QUYỀN VÀ sự ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Co’ sỏ’ lý luận giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền 1. Khái niệm và các dấu hiệu của tranh chấp lao động tập thể về quyền * Khái niệm tranh chẩp lao động tập thể về quyền - Khái niệm tranh chấp lao động tập thể Tranh chấp lao động không chỉ đơn thuần là tranh chấp về sự lao động, về sự làm việc, tức là xung đột về hành vi liên quan đến hoạt động chức năng của NLĐ. Tranh chấp lao động là loại tranh chấp về các vấn đề liên quan đến quá trình lao động, tức là quá trình xác lập, duy trì, chấm dứt mối quan hệ lao động giữa các bên.
Không chỉ có vậy, tranh chấp lao động còn bao gồm cả các xung đột liên quan đến việc làm, học nghề, quan hệ đại diện lao động v. Trong suốt quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ lao động, không phải lúc nào mối quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ đều diễn ra suôn sẻ và ổn định. Trong quá trình đó, giữa hai chù thể bất cứ lúc nào cũng tiền ẩn nguy cơ xảy ra tranh chấp. Trên Thế giới, do những điều kiện khác nhau về kinh tế - xã hội, văn hóa - chính trị mà quan niệm về tranh chấp lao động cũng khác nhau.
Những quốc gia có cơ chế giãi quyết riêng áp dụng đối với từng loại tranh chấp thì quốc gia đó chú trọng đến việc xây dựng khái niệm về mỗi loại tranh chấp còn với quốc gia không có cơ chế giải quyết riêng cho từng loại tranh chấp thì chú trọng xây dựng một định nghĩa chung về TCLĐ. Nghiên cứu về quy định của các quốc gia trên thế giới cho thấy, định nghĩa về TCLĐ đầu tiên được ghi nhận trong Luật TCLĐ năm 1906 của Anh và mục 8 Luật tòa án lao động Anh năm 1919 quy định: "TCLĐ [trade dispute] có nghĩa là bất kỳ tranh chấp nào giữa NSDLĐ và NLĐ hoặc giữa NLĐ và NSDLĐ liên quan đến việc 9 tuyên dụng lao động hay các điêu khoản thỏa thuận vê thuê mướn lao động hoặc liên quan đến các điều kiện lao động của bất kỳ người nào” [53]. Với định nghĩa nêu trên, khái niệm về TCLĐ được giới hạn về mặt chủ thể (phải là NLĐ hoặc chù thể lao động). Định nghĩa này được nhiều nước tiếp thu như Brunnây, Hôngkông, Malayxia, Singapore Khác với pháp luật Anh, định nghĩa vê TCLĐ của Mỹ được hiêu là: "Bất kỳ tranh cãi nào về các điều khoản, thời hạn, hay điều kiện về thuê mướn lao động, hay liên quan đến vấn đề tổ chức hoặc đại diện trong thương lượng, quyết định, duy trì, thay đổi, hay nồ lực, dàn xếp các điều khoản hay điều kiện về thuê mướn lao động bất kể là các bên tranh chấp có phải là [các bên] trong quan hệ lao động hay không (Theo mục 2.9 Luật quan hệ lao động quôc gia của Hoa Kỳ).
Định nghĩa về TCLĐ của Mỹ bao quát và không giới hạn về chủ thể tranh chấp như pháp luật của nước Anh. Định nghĩa này cũng được nhiều nước tiếp thu. Chẳng hạn theo Điều 121.1 BLLĐ Philippin năm 1974 TCLĐ (labour dispute) được hiểu là: "Bất kỳ tranh cãi hay vấn đề nào liên quan đến các điều khoăn và điều kiện thuê mướn lao động hoặc vấn đề tổ chức hay đại diện trong thương lượng, quyết định, duy trì, thay đổi, hay dàn xếp các điều khoản và điều kiện về thuê mướn lao động bất kể là các bên tranh chấp có phải là [các bên] trong mối QHLĐ gần gũi hay không”. r trước năm 1985, khái niệm “tranh châp lao động” dường như không được nhăc đên trong thời kì đó do quan diêm xây dựng nên kinh tê theo hướng kê hoạch hóa tập trung, người lao động là công nhân viên chức của Nhà nước, do đó sức lao động không được coi là một hàng hóa.
Nêu không đồng tình hoặc cần đưa ra vấn đề gì liên quan đến quyền và lợi ích, người lao động được sử dụng quyền “khiếu nại, tố cáo”. Khái niệm “tranh chấp lao động” chính thức được đề cập đến tại Thông tư liên ngành số 02/TT- LN ngày 02/10/1985 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân 10 tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ Lao động - Tổng cục dạy nghề về việc hướng dẫn thực hiện thẩm quyền xét xữ của Tòa án nhân dân về một số việc tranh chấp lao động. Tuy nhiên, tại Thông tư này, khái niệm tranh chấp lao động không được xác định về nội hàm mà chỉ là một cụm từ có tính thông báo: Trong khi chờ đợi BLLĐ quy định đầy đủ thẩm quyền của Tòa án nhân dân và thủ tục xét xử những tranh chấp lao động, Hội đồng Bộ trướng đã ra quyết định số 10/HĐBT ngày 14/01/1985 quy định chuyền sang tòa án nhân dân xét xử những việc sau đây, đã được cơ quan có thẩm quyền xử lí nhưng đương sự còn khiếu nại hoặc không chịu bồi thường. Bộ luật lao động 2012 được ban hành đã quy định cụ thể về khái niệm TCLĐ và đã được hoàn thiện hơn tại khoản 1 Điều 179 BLLĐ 2019: Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tố chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.
Như vậy, có thể thấy mỗi một quốc gia tiếp cận khái niệm TCLĐ ở những góc độ khác nhau nhưng về bản chất đều định nghĩa TCLĐ phát sinh trong mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ và Tranh chấp lao động phát sinh do có sự xung đột, mâu thuẫn về quyền hoặc lợi ích của các bên trong quan hệ lao động. Do đó có thế hiếu: “TCLĐ là những tranh chấp phát sinh do sự mâu thuẫn, xung đột về quyền và lợi ích của NLĐ và NSDLĐ trong quan hệ lao động và các chủ thê khác có liên quan đến quan hệ lao động Tranh chấp lao động bao gồm: tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. Hiện nay, một số nước như Pháp, Bỉ, Đức, Ý, Việt 11 Nam chia tranh châp lao động làm hai loại là TCLĐ cá nhân và TCLĐTT. Mặc dù có cách phân loại tranh chấp giống nhau nhung cách thức xây dựng khái niệm cho từng loại tranh chấp ở mối quốc gia lại khác nhau.
Có quốc xây dựng khái niệm tương ứng với cách phân loại, nhưng có quốc gia lại sử dụng phương pháp loại trừ. Ví dụ: Bộ Luật lao động năm 1952 của Pháp quy định, việc thành lập tòa án lao động để “xét xừ tất cà các vụ tranh chấp cá nhân liên quan đến hợp đồng lao động tuyển dụng giữa NLĐ với NSDLĐ”. Như vậy, khái niệm TCLĐTT không được quy định trong bộ luật của Pháp mà TCLĐTT ở Pháp được hiểu theo phương pháp loại trừ, đó là tất cả các TCLĐ có sự tham gia của nhiều NLĐ và không liên quan đến hợp đồng lao động thì được coi là TCLĐTT. Khác với Bộ luật lao động năm 1952 của Pháp, khái niệm TCLĐ quy định tại Điều 6 Luật điều chỉnh QHLĐ Nhật Bản năm 1946 [29] lại chỉ đề cập đến khái niệm TCLĐTT.
Điều 7 Bộ Luật lao động của Canada năm 1985 định nghĩa TCLĐTT dưới góc độ là TCLĐTT về lợi ích: "Tranh chấp liên quan đến việc ký kết, gia hạn hoặc sửa đổi Thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) Nhìn chung, các quốc gia có định hướng phân loại này mặc dù có cách nhận diện, khái niệm Tranh chấp lao động tập thể là khác nhau nhưng đều nhìn nhận “tính tập thể” là đặc điểm cơ bản của TCLĐTT. Tính chất tập thể này được nhận diện không chỉ về mặt số lượng thành viên là người lao động tham gia tranh chấp mà còn đòi hỏi đặc thù về mục đích, tính chất của tranh chấp đó. Như vậy, TCLĐTT là tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều NLĐ do đó hậu quả pháp lý khi tranh chấp xảy ra sẽ ảnh hướng đến quan hệ lao động giữa một tập thể NLĐ với NSDLĐ tác động không nhở đến tính chất của QHLĐ cũng như sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Theo đó, có thể hiểu: "Tranh chấp lao động tập thề là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sính trong quan 12 hệ lao động giữa một bên là tập thê người lao động hoặc tô chức đại diện người lao động với một bên là một hoặc nhiều người sử dụng lao động (hoặc tô chức đại diện người sử dụng lao động) - Khái niệm tranh chấp lao động tập thể về quyền Quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi [52, tr.
Đe làm sáng tở khái niệm cũng như bán < _ ĩ ĩ > f chat của TCLĐTT vê quyên cân làm rõ môi liên hệ giữa TCLĐTT với quá trình thuơng lượng. Qua nghiên cún pháp luật về giải quyết TCLĐ của một số quốc gia cho thấy: Thời điểm xảy ra TCLĐTT về quyền thường xuất phát từ nguyên nhân đó là các bên trong QHLĐ lâm vào tình trạng bế tắc. Tuy nhiên, cách nhìn nhận hay quan điểm về TCLĐTT về quyền ở mồi quốc gia có sự khác nhau. Theo pháp luật Mỹ "TCLĐTT về quyền được hiểu là tranh chấp về những nội dung sẽ được đưa vào một TƯLĐTT mới".
Theo đó tranh chấp này chỉ phát sinh khi một trong các bên trong QHLĐ cho rằng quyền lợi hợp pháp của mình bị bên kia vi phạm.1 BLLĐ Canada năm 1985 cho rằng TCLĐTT về quyền là “bất đồng” (difference) về vấn đề giải thích, áp dụng và thực hiện TƯLĐTT thể hoặc khi một bên cho rằng bên kia đã vi phạm thỏa ____ __ ___ ___________ "X \ ___ ước. Nội hàm khái niệm tranh TCLĐTT vê quyên của Canada chỉ rõ: TCLĐTT về quyền đó chính là những tranh chấp về việc thực hiện các cam kết đã được quy định trong TƯLĐTT hoặc khi một bên cho rằng một trong các bên có hành vi vi phạm pháp luật. Điêu 1 Luật vê giải quyêt tranh châp QHLĐ của Indonesia năm 2004, khái niệm TCLĐTT về quyền được hiểu là: "Là những tranh chấp phát sinh về các quyền lợi (rights) bị vi phạm do những những bất đồng trong việc áp dụng hoặc giải thích các quy định pháp luật, các thởa thuận về lao động (work a greements), các quy định cua công ty hoặc các TƯLĐTT".