Chương 1: Những vẫn đề lý luận về án lệ và việc áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp đất đai. Chương 2: Thực trạng pháp luật về áp dụng án lệ và thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp, đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai thông qua án lệ. NHUNG VAN DE LY LUAN VE ANLE VA VIEC AP DUNG AN LE TRONG GIAI QUYET TRANH CHAP DAT DAI 1.
Những vấn đề lý luận về án lệ và áp dụng án lệ 1. Khái niệm ún lệ Án lệ là một khái niệm cơ bản trong khoa học pháp lý ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới. Có thê đối với nhiều người dân “án lệ” là một thuật ngữ pháp lý còn khá xa lạ, do việc áp dụng án lệ vào trong thực tiễn xét xử không nhiều. Nhưng hiện nay án lệ là một trong những nguồn thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam.
Theo từ điển Black's Law thì án lệ được hiểu như sau: “1. Án lệ là việc làm luật của tòa án khi công nhận và áp dụng các quy tắc mới trong quá trình xét xử; 2. Vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho những trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này”. Từ điển Luật học của Anh đưa ra một định nghĩa về án lệ, đó là “bản án hoặc quyết định được nêu ra để chứng minh cho một quyết định trong một vụ việc gần tương tự sau đó”.
Tại Mỹ, án lệ cũng được định nghĩa gần giống như với định nghĩa về án lệ trong Từ điển Luật học của Anh, theo đó, án lệ là: “một quyết định xét xử mà ở đó tạo ra một quy tắc với vai trò là điểm quy chiếu để quyết định những vụ án sau này có cùng tình tiết hoặc vấn đề pháp lý”. Bên cạnh khái niệm trên, một số từ điển của Việt Nam cũng đã đưa ra các định nghĩa về án lệ. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì án lệ được hiểu là: “Quyết định hoặc bản án của tòa cấp trên có giá trị bắt buộc đối với tòa cấp dưới; tòa phá án cũng phải tôn trọng quyết định trước đó của bản thân mình”; còn Từ điển Luật học lại định nghĩa: “Bản án đã tuyên hoặc một sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như một tiền lệ làm cơ sở để các Thẩm phán sau đó có thê áp dụng trong các trường hợp tương tự”. Tại Việt Nam, trước khi Quyết định 74/QĐÐ-TANDTC được ban hành, có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về án lệ.TS Nguyễn Thị Hồi, khái niệm án lệ được xây dựng từ định nghĩa của từ “precedenf” theo như truyền thống Thông luật.
Từ điển Black?s Law còn lý giải cụ thé hon nữa về khái niém “precedent” như sau: ““Irong pháp luật, án lệ là một vụ việc đã được xét xử hoặc quyết định của Tòa án được xem như sự cung cấp quy định hoặc quyền lực cho quyết định của một vụ việc giống hoặc tương tự xảy ra về sau, hoặc cho một vấn đề tương tự của pháp luật, hoặc khi nếu các sự kiện là khác nhau thì nguyên tắc chi phối vụ việc đầu tiên có thể áp dụng được cho các sự kiện khác nhau chút ít. Một án lệ là một quyết định của Tòa án chứa đựng trong nó một nguyên tắc. Nguyên lý cơ bản giống như mẫu mà phần có căn cứ đích xác của nó thường được gọi là nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể. Một quyết định cu thé là bắt buộc đối với các bên, nhưng nó là bản tóm tắt của nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể mà chỉ có nó có hiệu lực pháp luật”.
Tiếp đến, Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP về áp dụng án lệ đã chính thức ghi nhận: “Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thê được Hội đồng Tham phan TANDTC lựa chọn và được Chánh án TANDTC công bồ là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Như vậy, xét một cách khái quát, án lệ thực chất là những bản án, quyết định của Tòa án, trong đó có chứa những lập luận, nhận định mang tính điển hình, khuôn mẫu để giải quyết một việc khách quan, công bằng. Chúng được các cơ quan có thâm quyền thừa nhận, phát triển thành khuôn mẫu chung để giải quyết các vụ việc có tính chất tương tự. Đặc điểm của án lệ Hiện nay, hầu hết các nước có nên luật pháp tiên tiễn đều có sự vận dụng án lệ trong xét xử ở hệ thông Tòa án, xuât phát từ yêu câu thực tiên xét xử, với nguyên tắc Tòa án không được quyền từ chối thu ly bat cứ yêu cầu khởi kiện nao của công dân và đồng thời cũng có nguyên nhân sâu xa từ sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới của các nước.
Án lệ tạo lập quy tắc pháp lý tin cậy cho việc quyết định các vụ việc tương tự có thê xảy ra trong tương lai. Án lệ sẽ giải quyết những tình tiết thực tế giống nhau. hoặc sự kiện khác nhau thì các nguyên tắc, các quy định khái quát của pháp luật được áp dụng trong vụ án trở thành án lệ sẽ là vụ án đầu tiên có thể được Tòa án trực tiếp giải quyết vụ án áp dụng cho nhiều sự kiện khác nhau hoặc tương tự nhau. Với những nước theo hệ thống pháp luật Civil Law, tiêu biểu một số nước như Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản.
Án lệ được xem như một cách giải thích pháp luật. Những bản án này không được xem là luật, không mang tính ràng buộc pháp lý những tòa cấp dưới phải tham khảo, nếu không nguy cơ bị tòa cấp trên sửa án rất cao. Cơ sở hình thành án lệ chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật. khi có những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật, tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá và bản án này sẽ được tòa án tôi cao công bồ là án lệ để áp dụng chung cho các trường hợp tương tự do khiếm khuyết quy phạm hoặc chưa có dẫn chiếu quy phạm rõ ràng.
Ở nước ngoài, khái niệm án lệ (Case Law) là một trong những nguồn luật chính thức và quan trọng trong hệ thống pháp luật của quốc gia và được áp dụng rộng rãi. Theo đó, những bản án, quyết định giải quyết vụ việc trong các tập san án lệ trở thành khuôn mẫu, trở thành cơ sở để tòa đưa ra phán quyết trong những vụ việc có tình tiết, vẫn đề tương tự sau đó.[18] Ở nhiều nước trên thế gidi, viéc công bố bản án được thực hiện thường xuyên, liên tục, rộng rãi băng nhiều phương tiện thông tin đại chúng, kể cả trên hệ thống Internet.[19] Đối với các nước theo hệ thống Common Law, những bản án mẫu được tuyển chọn, đăng tải trong các báo cáo tông hợp án lệ (Law Report) và trở thành an 1é (Case Law) là nguồn của pháp luật. Riêng ở Mỹ, khi xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và các tranh chấp nảy sinh, các tòa án cần phải diễn giải luật bằng các bản án trước đó của Tòa án cùng cấp hoặc Tòa án cấp cao hơn. Đây được gọi là nguyên tắc theo quyết định trước hay đơn giản gọi là án lệ.
Nếu phải đối mặt với các án lệ bất lợi, bị đơn sẽ tìm cách phân biệt sự khác nhau giữa vụ việc của mình với những vụ việc trước đó. Sau đó Tòa án cấp cao hơn sẽ tìm cách giải quyết mâu thuẫn này để bổ sung cho án lệ ngày một hoàn chỉnh hơn. Ở Pháp, trong trường hợp nếu pháp luật quy định không rõ ràng, không đầy đủ, thâm phán vẫn phải tuyến án nếu không muốn bị kiện vì hành vi phủ nhận công lý. Do vậy, chỉ có cách ồn thỏa nhất, Thâm phán sẽ dựa vào án lệ đã được thừa nhận dé dua ra phan quyét.[20] Mặt khác, ở Cộng hòa Liên bang Đức, phương pháp xây dựng án lệ đã tạo điều kiện cho Tòa án nước này thể hiện vai trò sang tao, nhat 1a khi giai thich luật, Tòa án được căn cứ vào câu chữ, ngữ cảnh và mục đích của quy phạm, ké cả căn cứ vào quá trình soạn thảo quy phạm đó.
Đặc biệt, Tòa án còn có quyền lựa chọn cách giải thích phù hợp nhất với Hiến pháp, án lệ được hình thành từ việc giải thích một quy phạm pháp luật cũng có giá trị, hiệu lực gần như một quy phạm pháp luật. Rõ ràng án lệ có giá trị không những về thực tiễn, mà còn có giá trị không thua gì một quy phạm pháp luật. Ở Tây Ban Nha, chịu ảnh hưởng của Luật La Mã, coi án lệ như một nguồn luật, có giá trị bổ sung trật tự pháp lý thông qua luận thuyết được TATC áp dụng trong quá trình giải thích và áp dụng luật, tập quán, kế cả các nguyên tắc chung của luật pháp.[21] Ở Anh Quốc, vai trò sáng tạo của án lệ rất quan trọng, được thể hiện theo quy tắc của tiền lệ pháp đã xuất hiện từ đầu thế kỷ thứ XIX được hiểu như một quy tắc đã được lập ra trong một phán quyết ban hành từ trước đó chỉ có hiệu lực ràng buộc đối với các thẳm phán khi xét xử các vụ kiện tương tự. Việc xây dựng án lệ theo quan điểm xét xử của các tòa án có thâm quyền xem xét bản án của tòa cấp dưới đã góp phần bố sung cho sự thiếu sót của các quy định pháp luật 10 trong thực tiễn, nên việc vận dụng án lệ được thực hiện khá phô biến.
Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng hệ thống luật pháp ở Anh là theo luật mềm, không cứng nhắc dựa vào các văn bản pháp luật do Quốc hội (Nghị viện) ban hành, mà có sự vận dụng linh hoạt đúng luật vừa phù hợp với thực tiễn, phù hợp lẽ phải và công bằng xã hội.[21] Từ thực tiễn án lệ của hệ thong pháp luật các nước trên thế giới nêu trên, tác giả đưa ra một số đặc điểm cơ bản của án lệ như sau: Thứ nhất, án lệ do Tòa án tạo ra trong qua trình xét xử nên nguồn luật án lệ còn được gọi là luật được hình thành từ vụ việc (case law) hay luật do thâm phán ban hanh (judge make law) Thứ hai, án lệ được hình thành phải mang tính mới.