Chương 1: Khái quát về dịch vụ khám, chữa bệnh của phòng khám đa khoa và pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh của phòng khám đa khoa. Chương 2: Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh của phòng khám đa khoa ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về về điều kiện kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh của phòng khám đa khoa. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ KHÁM, CHỮA BỆNH CỦA PHÒNG KHÁM ĐA KHOA VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ KHÁM, CHỮA BỆNH CỦA PHÒNG KHÁM ĐA KHOA 1.
Khái quát về dịch vụ khám, chữa bệnh của phòng khám đa khoa 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ khám, chữa bệnh Kể từ khi con người xuất hiện, có trí khôn và mong muốn ngăn ngừa bệnh tật, kéo dài tuổi thọ cũng như để chăm sóc sức khỏe thì các ý niệm ban đầu về hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cũng đã sớm hình thành trong xã hội. Theo từ điển Tiếng Việt, khám bệnh là xem xét để biết tình trạng sức khoẻ, để biết bệnh trạng trong cơ thể4.
Trên khía cạnh pháp lý, các khái niệm về khám bệnh và chữa bệnh cũng được ghi nhận một cách rõ ràng. Cụ thể, liên quan đến khái niệm khám bệnh, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định “khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận”. Mặc dù là khái niệm về khám bệnh, tuy nhiên nội hàm khái niệm này chứa đựng một số cụm từ, khái niệm cần được làm rõ để hiểu rõ hơn khái niệm khám bệnh. Thuật ngữ liên quan đầu tiên là “hỏi bệnh”.
Hiện nay chưa có quy định pháp luật cụ thể quy định thế nào là hỏi bệnh. Tuy nhiên, có thể hiểu rằng hỏi bệnh là sự tiếp xúc ban đầu, khai thác thông tin về bệnh tình của bệnh nhân từ người hoạt động khám chữa bệnh. Việc hỏi bệnh có thể đi kèm hoạt động khai thác tiền sử bệnh, theo đó người hoạt động khám bệnh, chữa bệnh yêu cầu người khám bệnh, chữa bệnh cung cấp các thông tin về những loại bệnh mà người này đã mắc phải trước đó. Trên cơ sở hỏi bệnh tình hiện tại, và tiền sử bệnh, quá trình khám bệnh còn bao gồm việc thăm khám thực tế, theo đó người hoạt động khám bệnh, chữa bệnh căn cứ vào những thông tin sau khi hỏi bệnh tình hiện tại, và tiền sử bệnh để tiến hành áp dụng một số phương pháp y học thăm khám bệnh cho bệnh nhân trên thực tế.
Những phương pháp này có thể bao 4 http://tratu.vn/dict/vn_vn/Kh%C3%A1m 9 gồm chỉ định làm xét nghiệm lâm sàng như máu, nước tiểu…, các biện pháp cận lâm sàng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được giới y học công nhận cho bệnh nhân được khám bệnh. Mặt khác, đối với khái niệm chữa bệnh, theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định đây là “việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh”. Thông qua nội hàm quy định này có thể khẳng định rằng, một hoạt động chỉ được công nhận là chữa bệnh theo quy định pháp luật nếu hoạt động này sử dụng một phương pháp chuyên môn kỹ thuật y khoa đã được công nhận và thuốc được sử dụng để tiến hành các hoạt động cấp cứu, điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh. Trong trường hợp, một người sử dụng các kỹ thuật chưa được công nhận hoặc sử dụng các loại thuốc chưa được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh thì cũng không được xem hoạt động chữa bệnh theo quy định pháp luật.
Mặc dù vậy, nội hàm các khái niệm về khám bệnh, chữa bệnh theo Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 qua thực tiễn áp dụng vẫn chưa thể hiện sự bao quát mà nó cần thiết phải có. Đối với khái niệm khám bệnh, việc liệt kê các công việc cần thiết tại khái niệm này trong một thời gian dài đã gây ra những tranh luận lớn về sự đầy đủ của nội hàm của khám bệnh. Bởi lẽ, việc khám bệnh còn bao gồm việc chẩn đoán bằng hình ảnh và thêm vào đó, khám bệnh không chỉ nhằm mục đích áp dụng các phương pháp kỹ thuật để chữa bệnh mà còn để phòng bệnh. Nếu hiểu và áp dụng như khái niệm được sử dụng hiện tại, các hoạt động khám bệnh phòng bệnh cho bệnh nhân (như khám tổng quát) không được xem là một hoạt động khám bệnh.
Đối với khái niệm chữa bệnh, giới hạn về điều kiện để được xem là chữa bệnh đã gây ra sự thiếu sót nhất định nếu áp dụng vào thực tiễn y khoa hiện tại. Bởi lẽ, trên thực tế việc chữa bệnh không chỉ có vai trò của các phương pháp khoa học kỹ thuật và thuốc mà còn có sự tham gia và đóng lớn của các trang thiết bị y tế. Hiện nay, các trang thiết bị y tế hiện đại đóng vai trò vô cùng to lớn trong hoạt động chữa bệnh. Có thể nhận thấy điều này thông qua việc điều trị Covid 19 thời kỳ dịch bùng phát đỉnh điểm, máy thở là một trong những trang thiết bị không thể thiếu trong hoạt động chữa bệnh.
10 Nội dung khái niệm khám bệnh, chữa bệnh đã được hoàn thiện tại Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2023. Theo đó, tại khoản 1 Điều 2 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định khái niệm khám bệnh là “việc người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để đánh giá tình trạng sức khỏe, nguy cơ đối với sức khỏe và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người bệnh”. Như vậy, so với khái niệm về khám bệnh được quy định tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, nội dung khám bệnh được quy định tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 đã có những nội dung tiến bộ và hoàn thiện hơn. Cụ thể, khái niệm khám bệnh tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh đã khắc phục được tình trạng liệt kê các công đoạn, “khái niệm trong khái niệm” khiến việc hình dung về hoạt động khám bệnh trở nên khó khăn hơn, dễ dàng trở nên thiếu, không phù hợp với hoạt động khám bệnh trên thực tế vì xã hội luôn vận động phát triển mạnh mẽ hơn, phương pháp liệt kê trong trường hợp này thường chỉ phù hợp với một giai đoạn.
Tại khoản 1 Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 có thể nhận thấy khái niệm khám bệnh được định nghĩa là hoạt động sử dụng kiến thức, phương pháp cũng như kỹ thuật chuyên môn của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Như vậy, mặc dù khám bệnh và chữa bệnh là hai hoạt động khác nhau, có nội hàm khác nhau nhưng nó lại gắn kết chặt chẽ với nhau. Khám bệnh là tiền đề của chữa bệnh, để chữa bệnh phải qua khám bệnh. Nếu không khám bệnh thì không thể chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh tật để có phương pháp điều trị chữa bệnh.
Chính vì sự gắn kết thành thể thống nhất giữa khám bệnh và chữa bệnh nên trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng thuật ngữ chung là khám chữa bệnh dưới góc độ điều chỉnh của pháp luật đối với loại dịch vụ khám chữa bệnh. Hiện nay, khám chữa bệnh được tiếp cận dưới góc độ là một loại hình dịch vụ. Có thể nói rằng, khám chữa bệnh là dịch vụ phục vụ con người được thiết lập trên cơ sở hợp đồng giữa cơ sở khám, chữa bệnh với tư cách là nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh5. 5 Đinh Thị Thanh Nga (2017), “Hoàn thiện quy định về quyền của người sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 18 (346), tr.
45 - 52, 64 11 Theo Từ điển Tiếng Việt, dịch vụ là “công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công. Tiếp cận dịch vụ theo nghĩa rộng, C. Mác cho rằng: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa khi nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển”, theo đó, C. Mác đã chỉ ra rằng, khi kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh.
Adam Smith khẳng định: “Dịch vụ không mang tính sản xuất vì không để lại một sản phẩm vật chất hữu hình, trong đó, những tầng lớp được coi trọng trong xã hội như cha đạo, luật sư, thầy thuốc, người viết thư thuê, nhạc công, ca sĩ opera, vũ công…thực sự không sản sinh ra bất kỳ giá trị nào và không được hàm chứa trong một vật thể xác định hay một loại mặt hàng có thể bán được và công việc của người này tàn lụi đúng lúc nó được sinh ra”6. Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS), một hiệp định thuộc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra đời năm 1995 quy định các nguyên tắc về thương mại dịch vụ, trong đó không đưa ra định nghĩa dịch vụ mà chỉ định nghĩa dịch vụ theo từng phân ngành cụ thể và qua các phương thức cung cấp dịch vụ. Theo “Bảng phân loại các ngành dịch vụ” của WTO (Tài liệu mã số MTN.GNS/W/120) thì “(h) Dịch vụ y tế và nha khoa” được liệt kê với tư cách là tiểu ngành dịch vụ của “(A) Dịch vụ chuyên môn” nằm trong ngành dịch vụ thứ nhất: “Dịch vụ kinh doanh”, tương ứng với mã số CPC 9311, 9312 của Liên hợp quốc7. Như vậy, trong mục 93 (Dịch vụ y tế và xã hội), GATT đã chia thành hai loại gồm: (i) Dịch vụ bệnh viện (mã 9311) là những dịch vụ được cung cấp dưới sự hướng dẫn của bác sỹ chữa bệnh chủ yếu đối với các bệnh nhân trong bệnh viện, với mục đích chữa bệnh, hồi phục hoặc duy trì tình trạng sức khỏe của một bệnh nhân.