Chương 1. Lý luận chung và pháp luật về thanh toán hối phiếu Chương 2. Thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán hối phiếu. LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN HỐI PHIẾU 1.1 Khái quát chung về hối phiếu 1.1 Sự hình thành hối phiếu Kinh tế hàng hóa, thương mại nội địa và quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, các thương nhân thường gặp khó khăn trong việc thanh toán ngay tiền hàng có giá trị lớn.
Để khắc phục hạn chế khả năng thanh toán ngay, thúc đẩy mua bán hàng hóa trên thị trường, mở rộng thị phần và đứng vững trong cạnh tranh thương mại, vào thế kỷ XII các thương nhân bắt đầu bán hàng trả chậm. Từ đó, hình thành tín dụng thương mại giữa các thương nhân với nhau. Trong thời kỳ đầu, tín dụng thương mại được biểu hiện dưới hình thức văn bản nhận nợ. Trong đó, người mua tự nhận nợ và cam kết thanh toán cho người bán một số tiền nhất định, tại một địa điểm nhất định và tại một thời điểm xác định trong tương lai.
Văn bản nhận nợ của người mua thực chất là lời hứa trả tiền, nên người ta gọi là hứa phiếu, trong đó, người mua là con nợ, người bán là chủ nợ. Tuy nhiên, những người thụ hưởng hứa phiếu vẫn lo ngại rằng, hứa phiếu là do con nợ viết ra nên mức độ tin cậy là không cao. Điều này hạn chế tính lưu thông của hứa phiếu và làm giảm vai trò của tín dụng thương mại như là công cụ thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Để khắc phục hạn chế của hứa phiếu, người ta đã thay đổi phương thức nhận nợ trong mua bán trả chậm.
Theo đó, người bán chủ động ký phát một thương phiếu và người mua ký chấp nhận trả nợ. Có thể nói, thương phiếu ra đời từ thế kỷ XII khi nền kinh tế hàng hóa đã phát triển phá vỡ kiểu sản xuất tự cung tự cấp đã tồn tại hàng ngàn năm1. Các thương gia ở thành phố cảng Italia là những người đầu tiên phát hành, sử dụng thương phiếu ở thế kỷ XII – tiền thân của hối phiếu sau này. Ngày nay hối phiếu được sử dụng rộng rãi như là phương tiện thanh toán trong quan hệ thương mại quốc tế cũng như trong quan hệ thương mại nội địa.
Để hối phiếu trở thành phương tiện thanh toán và nâng cao hiệu quả sử dụng của hối phiếu, ngoài việc phải chứng chỉ hóa hối phiếu bên cạnh đó phải tạo được hành lang pháp 1 Đinh Xuân Trình, Đặng Thị Nhàn (2006). Thị trường thương phiếu ở Việt Nam, Đại học Ngoại Thương, Nhà xuất bản Lao động Xã hội. 8 lý thật toàn diện cho hối phiếu cũng như các hoạt động thương mại liên quan đến hối phiếu như ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đã ban hành. Năm 1912, Hội nghị về Luật hối phiếu được tổ chức tại Den Haag, hội nghị đã ra kiến nghị về việc ký kết hiệp định giữa các nước để cam kết soạn thảo và thi hành pháp lệnh hối phiếu ở nước mình.
Tuy nhiên, cho đến năm 1930 khi hội nghị về Luật hối phiếu được tổ chức tại Geneve thì các nước thành viên mới phê chuẩn Công ước về Luật hối phiếu. Công ước được gọi là Công ước Geneve 1930 về Luật hối phiếu thống nhất. Một số nước mặt dù không tham gia Công ước Geneve nhưng vẫn xây dựng Luật hối phiếu của mình tương thích theo Công ước. Tại Việt Nam, lần lượt vào năm 1864 và năm 1888, Luật thương mại của Pháp tương ứng được áp dụng ở Nam Kỳ và ở Bắc Kỳ.
Sau khi phê chuẩn Công ước Geneve năm 1935, Luật thương phiếu của Pháp được áp dụng trên toàn Đông Dương. Trong suốt thời kì kháng chiến chống Pháp, thương phiếu vẫn được sử dụng trong khu vực Pháp chiếm giữ. Từ năm 1954 đến năm 1972, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc. Năm 1972, Chính phủ miền Nam Việt Nam ban hành Luật thương mại, trong đó dành riêng một chương quy định về Thương phiếu.
Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Luật thương mại này không còn được áp dụng nữa. Ngày 24/12/1999, Pháp lệnh thương phiếu của Việt Nam ra đời đánh dấu bước phát triển chính thức của hối phiếu tại Việt Nam thể hiện qua việc định nghĩa riêng về hối phiếu và lệnh phiếu. Ngày 29/11/2005, Luật các công cụ chuyển nhượng được thông qua đánh dấu bước phát triển mới của hối phiếu tại Việt Nam bằng việc định nghĩa công cụ chuyển nhượng (hối phiếu là công cụ chuyển nhượng), gọi tên và phân loại hối phiếu thành hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ. Bên cạnh đó, Luật các tổ chức tín dụng 2010 cho phép các tổ chức tín dụng hoạt động tín dụng dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, trong đó có hối phiếu.
Các văn bản trên đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để phát triển thị trường hối phiếu tại Việt Nam.2 Khái niệm hối phiếu Mỗi quốc gia hay một tổ chức lại đưa ra một khái niệm khác nhau cho hối phiếu. Tuy có sự khác nhau về cách hành văn trong Luật hối phiếu của các quốc gia, 9 nhưng nội dung của các khái niệm đó vẫn có những điểm tương đồng. Cụ thể như sau: Theo Điều 3 Luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ bản sửa đổi năm 1995 đưa ra một khái niệm chung về công cụ chuyển nhượng gồm có hối phiếu, kỳ phiếu, séc, giấy gửi tiền. Khái niệm chỉ rõ “Phương tiện chuyển nhượng có nghĩa là một lệnh hoặc một lời hứa thanh toán một số tiền nhất định.
cho người cầm phiếu”; “Một phương tiện là một kỳ phiếu, nếu nó là một lời hứa và là một hối phiếu, nếu nó là một lệnh.”; “Lệnh là một yêu cầu thanh toán bằng văn bản do người yêu cầu phát hành. Yêu cầu này có thể gửi cho bất kỳ ai, bao gồm cả người đưa ra yêu cầu hoặc được gửi cho một người hay nhiều người.”2 Theo Đạo luật Hối phiếu Anh quốc 1882 “HPĐN là một mệnh lệnh vô điều kiện của một người ký phát cho một người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu hoặc đến một ngày cụ thể nhất thể nhất định hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác hoặc trả cho người cầm hối phiếu.”3 Luật hối phiếu của Singapore 1965 định nghĩa về hối phiếu gồm HPĐN và HPNN. HPĐN là một lệnh yêu cầu thanh toán không điều kiện bằng văn bản do một người ký phát cho một người khác yêu cầu người này thanh toán ngay lập tức hoặc tại một thời điểm ấn định hoặc có thể xác định trong tương lai một số tiền nhất định cho hoặc theo lệnh của một người xác định hoặc trả cho người cầm hối phiếu. Hối 2 Article 3 of Uniform Commercial Code 1995 of USA stated: “negotiable instrument means an unconditional promise or order to pay a fixed amount of money, with or without interest or other charges described in the promise or order, if it: (1) is payable to bearer or to order at the time it is issued or first comes into possession of a holder; (2) is payable on demand or at a definite time; and (3) does not state any other undertaking or instruction by the person promising or ordering payment to do any act in addition to the payment of money, but the promise or order may contain (i) an undertaking or power to give, maintain, or protect collateral to secure payment, (ii) an authorization or power to the holder to confess judgment or realize on or dispose of collateral, or (iii) a waiver of the benefit of any law intended for the advantage or protection of an obligor.” 3 Article 3 of Bill of Exchange Act 1982 of UK stated: “A bill of exchange is an unconditional order in writing, addressed by one person to another, signed by the person giving it, requiring the person to whom it is addressed to pay on demand or at a fixed or determinable future time a sum certain in money to or to the order of a specified person, or to bearer.” 10 phiếu nhận nợ là một cam kết không điều kiện được lập thành văn bản do người lập ký cho một người khác, cam kết sẽ thanh toán ngay khi có yêu cầu hoặc tại một thời điểm ấn định hoặc có thể xác định được trong tương lại một số tiền nhất định cho hoặc theo lệnh của một người cụ thể hoặc cho người cầm hối phiếu4.
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ 1995 thì hối phiếu là phiếu qua đó một người yêu cầu một người khác trả một món tiền theo kỳ hạn nhất định cho một người thứ ba. Trước đây, khái niệm hối phiếu đã được ghi nhận trong Luật Thương mại 1997 và Pháp lệnh Thương phiếu 1999 dưới khái niệm thương phiếu như sau “Thương phiếu là chứng chỉ ghi nhận sự cam kết thanh toán vô điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định. Thương phiếu theo Luật này gồm có hối phiếu và lệnh phiếu”5. Đây là một khái niệm không chính xác vì nó chỉ đúng với HPNN, chứ không đúng với HPĐN vì HPĐN yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.
Mặt khác, khái niệm này cũng chưa nêu được giá trị quan trọng của hối phiếu, đó là chứng chỉ có giá. Khắc phục những thiếu sót này, Pháp lệnh Thương phiếu 1999 đã đưa ra khái niệm hối phiếu như sau: “Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định. Thương phiếu gồm hối phiếu và lệnh phiếu.” 6 Khái niệm nêu ra trong Pháp lệnh này tương đối hoàn chỉnh so với các khái niệm trước đó. Tuy nhiên, nó vẫn chưa làm rõ được các chủ thể tham gia vào quan hệ hối phiếu.
Vì vậy, LCCCCN 2005 đã giải thích khái niệm hối phiếu theo hướng tách ra thành hai khái niệm là HPĐN và HPNN. 4 Article 3 of Bill of Exchange of Singapore stated “A bill of exchange is an unconditional order in writing, addressed by one person to another, signed by the person giving it, requiring the person to whom it is addressed to pay on demand or at a fixed or determinable future time a sum certain in money to, or to the order of, a specified person, or to bearer”.