Mở đầu, Danh mục từ viết tắt, Nội dung, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo. Trong đó, phần Nội dung bao gồm hai chương như sau: Chƣơng 1. Lý luận về hoạt động cho thuê ô tô của công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 1.1 Khái quát về hoạt động thương mại của công ty có vốn đầu tư nước ngoài 1.2 Quy định pháp luật về hoạt động cho thuê ôtô Chƣơng 2. Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc và các giải pháp hoàn thiện đối với hoạt động cho thuê ô tô của công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 2.1 Hoạt động áp dụng pháp luật liên quan đến việc cho thuê ô tô của công ty có vốn đầu tư nước ngoài 2.2 Một số vụ việc áp dụng pháp luật trong việc cấp phép hoạt động cho thuê ô tô của công ty có vốn đầu tư nước ngoài 2.3 Các giải pháp hoàn thiện đối với hoạt động cho thuê ô tô của công ty có vốn đầu tư nước ngoài 10 CHƢƠNG 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ Ô TÔ CỦA CÔNG TY CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI 1. Khái quát về hoạt động thƣơng mại của công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 1. Pháp luật về hoạt động thương mại Thuật ngữ “thương mại” có nguồn gốc gắn liền với quá trình lịch sử phát triển của loài người và hình thành nhà nước1. Ba lần phân công lao động xã hội của loài người dẫn đến hệ quả của việc chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp và thương mại trở thành nghề độc lập.
Thương nghiệp ra đời hình thành đội ngũ thương nhân cùng với sự phân hóa tài sản và nhu cầu trao đổi tài sản dẫn đến sự xuất hiện của đồng tiền. Hoạt động thương mại trong giai đoạn sơ khởi là sự trao đổi hàng hóa giữa các thương nhân khi có tài sản dôi dư, dần dần thương mại bao gồm thêm các dịch vụ cần thiết để đáp ứng cho những đối tượng có nhu cầu và được mở rộng ra trong nhiều lĩnh vực với phạm vi và quy mô hoạt động trong nước lẫn quốc tế. Có thể nói, khởi nguyên của pháp luật về thương mại chính là sự giao dịch của thương nhân để đạt được một thỏa thuận nhằm đạt được một lợi ích kinh tế nhất định. Ngày 01/01/1995, Tổ chức Thương mại Thế giới ra đời, là kết quả của các cuộc đàm phán giữa các quốc gia theo các quy tắc thương mại được các bên cam kết nhằm giảm thiểu các hạn chế, mở cửa và tự do hóa thương mại quốc tế.
Ngày 07/11/2006, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO. Theo đó, để gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết 11 ngành dịch vụ2 với phạm vi hoạt động được mô tả và giải thích chi tiết tại Bảng phân loại sản phẩm chủ yếu (Central 1 Xem “Khái niệm về Thương mại quốc tế và quá trình hình thành phát triển của Thương mại quốc tế”, https://voer.vn/m/khai-niem-ve-thuong-mai-quoc-te-va-qua-trinh-hinh-thanh-phat-trien-cua-thuong-mai- quoc-te/038dea2a, ngày truy cập 10/9/2020 lúc 22:00 2 Theo Biểu cam kết WTO, 11 ngành dịch vụ bao gồm các dịch vụ kinh doanh; dịch vụ thông tin; dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật liên quan; dịch vụ phân phối; dịch vụ giáo dục; dịch vụ môi trường; dịch vụ tài chính; dịch vụ y tế và xã hội; dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan; dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao; và dịch vụ vận tải. 11 Product Classification – CPC). Các cam kết của Việt Nam được ghi nhận tại Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO, gồm ba nội dung chính: cam kết chung, cam kết cụ thể và danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc.
Theo đó, Biểu cam kết WTO ghi nhận các cam kết theo từng phương thức cung cấp dịch vụ, trong đó bao gồm (1) cung cấp qua biên giới, (2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ, (3) hiện diện thương mại, và (4) hiện diện thể nhân. Đồng thời, Biểu cam kết WTO quy định tương ứng với từng dịch vụ cụ thể theo các trường hợp: (1) cam kết toàn bộ: không có bất cứ hạn chế nào về tiếp cận thị trường hay đối xử quốc gia, (2) cam kết kèm theo những hạn chế: đưa ra các biện pháp hạn chế đối với nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài khi hoạt động tại lãnh thổ, (3) không cam kết hoặc chưa cam kết. Ngoài Biểu cam kết WTO nêu trên, Việt Nam đã ký kết một số điều ước quốc tế hoặc cam kết quốc tế về hoạt động thương mại, như là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP), Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (Hiệp định AFAS), Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (Hiệp định ACIA), Hiệp định về tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Nhật Bản (Hiệp định BIT), Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (Hiệp định VJEPA), Hiệp định về quan hệ thương mại giữa Việt Nam – Hoa Kỳ (Hiệp định BTA), các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) (như Hiệp định thương mại giữa ASEAN với Trung Quốc (Hiệp định ACFTA), Việt Nam với Hàn Quốc (Hiệp định VKFTA),…). Các Hiệp định quốc tế nêu trên có nội dung chủ yếu là mở cửa thị trường và tự do hóa thương mại, dịch vụ mà Việt Nam là thành viên hoặc là một bên ký kết.
Hoạt động thương mại theo các Hiệp định này cùng mang đặc điểm chung, đó là việc trao đổi hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các quốc gia là thành viên nhằm mục đích sinh lợi theo phạm vi và hình thức hoạt động dựa trên các cam kết quốc tế mà các quốc gia thành viên ký kết theo từng lĩnh vực cụ thể. Hoạt động thương mại lần đầu tiên được pháp luật Việt Nam chính thức thừa nhận và quy định tại Luật Thương mại số 58/L-CTN được Quốc hội ban hành ngày 12 10/5/1997 với khái niệm hoạt động thương mại là “việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội”3. Luật Thương mại 1997 giới hạn các đối tượng điều chỉnh bằng việc quy định 14 hành vi thương mại cụ thể4 và những hành vi không thuộc 14 hành vi đó sẽ không phải là hành vi thương mại. Chính vì vậy, mặc dù Luật Thương mại 1997 được xem là một văn bản pháp luật thương mại đầu tiên của Việt Nam trong việc chuyển hướng sang cơ chế thị trường, nhưng vẫn còn thể hiện nhiều hạn chế nhất định, cụ thể là (i) chưa bao quát được tổng thể các mối quan hệ xã hội có bản chất thương mại nhưng lại chưa được Luật Thương mại 1997 điều chỉnh, (ii) thể hiện sự trùng lắp và chồng chéo với Luật Doanh nghiệp về việc đăng ký kinh doanh và địa vị pháp lý giữa thương nhân và doanh nghiệp.
Ngày 14/6/2005, Quốc hội đã ban hành Luật Thương mại số 36/2005/QH11 thay thế Luật Thương mại 1997, theo đó đã đưa ra khái niệm mới về hoạt động thương mại, đó là “hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” 5. Xét về tổng thể, hoạt động thương mại theo định nghĩa của Luật Thương mại có sự tương thích với pháp luật quốc tế và các cam kết quốc tế mà Việt Nam ký kết, bởi lẽ phạm vi thương mại đã được hiểu theo nghĩa bao quát mà không phải bó hẹp theo những hành vi cụ thể mà mở rộng ra phạm vi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi. Bên cạnh đó, hoạt động thương mại theo Luật Thương mại 2005 cũng có một số khác biệt do ảnh hưởng của truyền thống, phong tục tập quán của đất nước và tác động đặc thù trong hoạt động của thương nhân Việt Nam, biểu hiện cụ thể bằng việc đưa vào nguyên tắc áp dụng trong Luật Thương mại các điều khoản về áp dụng thói quen thương mại 3 Khoản 2 Điều 5 Luật Thương mại 1997 4 Theo Điều 45 Luật Thương mại 1997, 14 hành vi thương mại bao gồm mua bán hàng hóa; đại diện cho thương nhân; môi giới thương mại; ủy thác mua bán hàng hóa; đại lý mua bán hàng hóa; gia công trong thương mại; đấu giá hàng hóa; đấu thầu hàng hóa; dịch vụ giao nhận hàng hóa; dịch vụ giám định hàng hóa; khuyến mại; quảng cáo thương mại; trưng bày giới thiệu hàng hóa; và hội chợ, triển lãm thương mại. 5 Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 13 của các bên hay nguyên tắc áp dụng tập quán thương mại nếu pháp luật không có quy định khác6.
Luật Thương mại 2005 phân chia các hoạt động thương mại theo các mục: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, các hoạt động trung gian thương mại, và một số hoạt động thương mại cụ thể khác. Nhìn chung, Luật Thương mại 2005 chỉ đưa ra khung pháp lý cơ bản đối với các hoạt động thương mại kể trên. Những vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại lại chưa được điều chỉnh chi tiết, chẳng hạn tại Điều 2 của Luật Thương mại 2005 quy định về đối tượng áp dụng là thương nhân hoạt động thương mại, nhưng khi nói đến đối tượng cụ thể là công ty FDI thì Luật Thương mại 2005 chỉ đưa ra một điều khoản duy nhất để điều chỉnh bằng việc dẫn chiếu quyền và nghĩa vụ của công ty FDI theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên 7. Như vậy, quyền và nghĩa vụ của công ty FDI cũng như các điều khoản quy định chi tiết của công ty FDI sẽ không được tìm thấy trong Luật Thương mại 2005.
Đơn cử thêm vấn đề khác về việc áp dụng Luật Thương mại và pháp luật liên quan, tại Điều 4 của Luật Thương mại có quy định rằng nếu hoạt động thương mại đặc thù do luật khác quy định thì sẽ áp dụng luật đó hoặc nếu Luật Thương mại và luật khác chưa có quy định thì sẽ áp dụng Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, hoạt động thương mại nào được xem là đặc thù lại chưa được nói rõ. Diễn giải theo quy định nêu trên, có thể nhận ra rằng, nếu luật khác có quy định thì hoạt động thương mại đó sẽ được xem là đặc thù, ngược lại, hoạt động thương mại không được luật khác điều chỉnh sẽ được xem là hoạt động thương mại đơn thuần và được điều chỉnh theo Luật Thương mại 2005.