CHƯƠNG 1 NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHỈ DẪN THƯƠNG MẠI 1.Tổng quan về chỉ dẫn thương mại 1.Khái niệm chỉ dẫn thương mại Trong kinh doanh có rất nhiều hoạt động để doanh nghiệp giúp khách hàng nhớ tới sản phẩm hoặc đặc điểm của doanh nghiệp mình. Từ những giai đoạn đầu tiên trong lịch sử cũng có rất nhiều những cách làm khác nhau giúp cho khách hàng nhớ và có ấn tượng về sản phẩm của mình. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, với sự phát triển của công nghiệp vào thế kỷ 19, các doanh nghiệp bắt đầu sử dụng các hình thức quảng cáo và tiếp thị đầu tiên để tạo ra sự nhận biết về sản phẩm của họ. Quảng cáo trên truyền hình và radio trở nên phổ biến và có sự tập trung vào việc xây dựng thương hiệu và tạo ấn tượng đối với khách hàng.
Với sự phổ biến của internet và sự gia tăng của công nghệ kỹ thuật số, chỉ dẫn thương mại đã trải qua một cuộc cách mạng. Các công ty có thể theo dõi và phân tích dữ liệu để hiểu hơn về hành vi của khách hàng và điều chỉnh chiến lược tiếp thị của họ dựa trên thông tin này. Có rất nhiều những phương thức khác nhau thông qua quảng cáo, xây dựng cho sản phẩm, truyền thông để người tiêu dùng nhớ và có dấu hiệu nhận biết các doanh nghiệp với nhau. Chẳng hạn khi nhắc đến Vinamilk người ta sẽ nhớ đây là công ty sữa, sản phẩm của công ty là các loại sữa từ Việt Nam hoặc khi nhắc đến Clear người ta sẽ biết đây là một loại dầu gội trị gầu,…Thông thường trong cuộc sống, hoạt động tạo ra những gợi nhớ, nhắc tên về doanh nghiệp sẽ được gọi chung là hoạt động xây dựng thương hiệu và được sử dụng khá thường xuyên, là chiến lược quan trọng đối với các doanh nghiệp khi vận hành.
Thuật ngữ “xây dựng thương hiệu” tương đối phổ biến trong các hoạt động thường nhật còn ít ai biết đến “chỉ dẫn thương mại”. Mặc dù xét trên góc độ về hành vi và phạm vi thì chúng có khá nhiều nét tương đồng. Tuy nhiên, thuật ngữ “chỉ dẫn thương mại” mới là thuật ngữ có giá trị pháp lý, được nhà nước công nhận và bảo hộ thông qua việc cấp các văn bằng bảo hộ. 11 Trong Luật Sở hữu trí tuệ, những hoạt động nhằm đưa đến thông tin, dấu hiệu để hướng dẫn khách hàng/người tiêu dùng biết đến hàng hóa, dịch vụ, công ty của mình sẽ được gọi chung là “chỉ dẫn thương mại”.
Các “chỉ dẫn thương mại" thường đề cập đến các yếu tố hoặc hiệu khác nhau được các doanh nghiệp sử dụng để có lợi thế cạnh tranh trong thị trường. Các chỉ dẫn thương mại này có thể bao gồm nhiều yếu tố, chiến lược và hiệu mà doanh nghiệp sử dụng để thu hút khách hàng, tăng cường thương hiệu của họ và vượt qua các đối thủ cạnh tranh. Chỉ dẫn thương mại (commercially available) trong ngữ cảnh của Hiệp định TRIPS đề cập đến việc quy định quyền sở hữu trí tuệ một cách cụ thể và đảm bảo rằng các quyền này không được sử dụng một cách cản trở thương mại trái với quy tắc cạnh tranh công bằng1. Khái niệm "chỉ dẫn thương mại" trong ngữ cảnh của Công ước Paris đề cập đến một số quyền và nghĩa vụ quan trọng đối với các quốc gia thành viên để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng trong thương mại và bảo vệ quyền thương hiệu.
Từ hai khái niệm trong Hiệp định TRIPs và Công ước Paris có thể hiểu chỉ dẫn thương mại là hành vi đảm bảo rằng các quyền không gây cản trở thương mại và quy tắc cạnh tranh công bằng trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ. Là một thành viên của hai điều ước và công ước quốc tế trên, Việt Nam cũng đã nội luật hóa rất nhiều những quy định về sở hữu trí tuệ. Khái niệm về chỉ dẫn thương mại lần đầu tiên được quy định tại Nghị định 54/2000/NĐ-CP của Chính Phủ về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp: “Chỉ dẫn thương mại” là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại, hàng hóa, dịch vụ, gồm nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hóa,…2 ". Quy định về khái niệm đối với chỉ dẫn thương mại được pháp điển hóa trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
Cho đến nay khái niệm về chỉ dẫn thương mại không 1 Điều 20, Hiệp định TRIPs. 2 Khoản 1 Điều 4 Nghị định 54/2000/NĐ-CP 12 có sự thay đổi. Từ quy định của pháp luật và các khái niệm đưa ra nêu trên, có thể hiểu đơn giản “chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu có thể là bằng thông tin hoặc hình ảnh được thể hiện bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm gợi nhớ đến sản phẩm hoặc hàng hóa hoặc doanh nghiệp. Phân loại chỉ dẫn thương mại Nhãn hiệu, TTM, và CDĐL là những yếu tố quan trọng trong hoạt động thương mại của DN.
Những đối tượng này đều phải đáp ứng các điều kiện đặc biệt, nhằm đảm bảo khả năng phân biệt và không nhầm lẫn cho NTD về xuất sứ của hàng hóa được gắn kết với những chỉ dẫn đó. Thời hạn bảo hộ các đối tượng này có thể kéo dài, thậm chí là vô thời hạn do việc bảo hộ không gây rào cản đối với sự tiếp cận của công chúng đối với các kết quả sáng tạo. Bên cạnh đó, các CDTM thường được gắn lên trên hàng hóa, bao bì,. do đó các đối tượng này rất dễ bị làm giả, làm nhái và có khả năng cao dễ bị xâm phạm SHTT.
Phân tích rõ hơn về chỉ dẫn thương đối với từng loại chỉ dẫn, tác giả sẽ nêu từng loại CDTM mà đề tài đã giới hạn. Nhãn hiệu a, Định nghĩa Thuật ngữ "nhãn hiệu" đã trải qua một lịch sử dài trong quá trình phát triển của nền thương mại toàn cầu. Ngay từ thời La Mã cổ đại, việc sử dụng các kỹ thuật chạm nổi hay đóng dấu trên sản phẩm đã trở nên phổ biến 3. Ngày nay, với sự phát triển ngày càng cao của thị trường, sự đa dạng và phong phú của sản phẩm được sản xuất và xuất khẩu đã tạo ra nhu cầu cho việc có nhãn hiệu riêng, nhằm phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh.
Nhãn hiệu không chỉ là cách nhận biết, bảo vệ sản phẩm mà còn là biểu tượng của sự phát triển và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Sự xuất hiện của nhãn hiệu nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất và doanh nghiệp trước những hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trong ngữ cảnh Châu Âu, với sự đa dạng của các quốc gia thành viên, có sự chênh lệch trong luật về nhãn hiệu. Điều này ảnh hưởng đến thị trường chung Châu Âu, và do đó, việc điều chỉnh hài hòa ở cấp độ cộng đồng trở nên cần thiết.
Chỉ thị 89/104/EEC3 của Cộng đồng 3 Vũ Thị Hải Yeesb (2021), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 13 Châu Âu là một bước tiến quan trọng, đặt ra các quy định thống nhất về nhãn hiệu trên toàn lãnh thổ Châu Âu. Điều 2 Chỉ thị 89/104 và Điều 4 Quy định 40/94 như sau: Theo định nghĩa này, nhãn hiệu phải đáp ứng ba điều kiện. Thứ nhất, là dấu hiệu; thứ hai, được trình bày rõ ràng và chi tiết; thứ ba, có khả năng phân biệt hàng hóa và dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
Năm 1967, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) được thành lập, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quản lý các vấn đề liên quan đến tài sản trí tuệ trên toàn thế giới. Khi đó, WIPO đã đưa ra định nghĩa về nhãn hiệu: "Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương mại hoặc một nhóm doanh nghiệp đó. Dấu hiệu này có thể là một hoặc nhiều từ ngữ, chữ, số, hình ảnh, hình, biểu tượng màu sắc hoặc sự kết hợp các màu sắc, hình thức hoặc sự trình bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm. Dấu hiệu này có thể là sự kết hợp của nhiều yếu tố nói trên.
Nhãn hiệu hàng hoá chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa được cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó sử dụng hoặc nhãn hiệu đó không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác đã được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm"4. Ở Việt Nam, Luật SHTT năm 2005 sửa đổi năm 2009 là một đạo luật chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam về Sở hữu trí tuệ trên cơ sở pháp điển hóa các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ đã được ban hành từ trước. Nói như vậy với lẽ Việt Nam là một thành viên của thỏa thuận quốc tế về nhãn hiệu bao gồm Công ước Pari và Hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế. Cụ thể, khoản 16 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 quy định: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau’5.
Nhìn chung các khái niệm về nhãn hiệu đều thống nhất cách hiểu về nhãn hiệu là một dấu hiệu hoặc sự kết hợp của nhiều dấu hiệu được chủ thể thương mại đăng 4 Xem thêm tại Chương 2, Mục Nhãn hiệu, Cẩm nang sở hữu trí tuệ, chính sách, pháp luật và áp dụng, Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), tháng 6/2001. 5 Cổng thông tin điện tử Cục Sở hữu trí tuệ, xem tại: https://ipvietnam.vn/nhan-hieu (truy cập ngày 10/10/2023) 14 ký với một chủ thể của luật quốc tế nhằm phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chính chủ thể thương mại đó với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể thương mại khác. b, Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu Thứ nhất, nhãn hiệu dùng để xác định nguồn gốc Nhãn hiệu được xem như một phương tiện chỉ dẫn nguồn gốc thương mại một cách hiệu quả và nhanh chóng nhãn hiệu là biểu tượng thương mại của doanh nghiệp, từ nhãn hiệu người tiêu dùng được chủ thể sản xuất sản phẩm, đánh giá chất lượng sản phẩm nhà sản xuất cung ứng6. Mặc dù đây không phải là chức năng riêng biệt của nhãn hiệu, nhiều dấu hiệu khác cũng có chức năng như vậy, tuy nhiên nhãn hiệu thực hiện chức năng này một cách rất riêng.