phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân huyện An Dƣơng, thành phố Hải Phòng. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại qua thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân huyện An Dƣơng, thành phố Hải Phòng.
8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI THEO THỦ TỤC SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án. Khái niệm của việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại Tranh chấp trong kinh doanh hay tranh chấp thƣơng mại là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nƣớc trên thế giới. Nội hàm khái niệm tranh chấp không phải là một thuật ngữ mới, khi Nhà nƣớc đƣợc hoàn thiện và pháp luật hình thành điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhƣ quan hệ dân sự thì các xung đột giữa các chủ thể trong các quan hệ này cũng xuất hiện theo đó, đây chính là nội hàm của tranh chấp.
Tuy nhiên nếu xét riêng về tranh chấp KDTM, hay nói cách khác là các tranh chấp xảy ra trong hoạt động này thì mới chỉ đƣợc biết đến và sử dụng rộng rãi ở nƣớc ta sau thời kỳ thay đổi chính sách kinh tế, tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế mới có cơ hội phát triển từ đó hoạt động KDTM trở nên phổ biến hơn, pháp luật vì thế cũng tiến hành điều chỉnh quan hệ xã hội này và tất yếu các xung đột giữa các chủ thể trong quan hệ KDTM cũng sẽ diễn ra, từ đó khái niệm tranh chấp KDTM đƣợc sử dụng nhiều hơn. Từ những năm 1994 các hoạt động KDTM tại Việt Nam diễn ra thƣờng xuyên, các tranh chấp từ hoạt động thƣơng mại cũng bắt đầu phát triển. Tuy vậy, các xung đột giữa các chủ thể trong quan hệ KDTM thực tế lại không hoàn toàn xấu mà đôi lúc là cơ sở để thúc đẩy sự phát triển của thị trƣờng. Trong kinh tế, các bên đều muốn bảo toàn đƣợc toàn bộ quyền, lợi ích hợp pháp mà mình đáng ra phải đƣợc hƣởng, nhƣng khi xảy ra tranh chấp, các quyền lợi này có thể sẽ bị ảnh hƣởng nghiêm trọng, vì thế các chủ thể trong tranh chấp luôn cố gắng nhanh chóng giải quyết mâu thuẫn giữa hai bên tránh những hậu quả kinh tế kéo dài cho cả hai, đồng thời sau khi giải quyết, các bên cũng nhanh chóng tìm cách khôi phục lại các lợi ích đã mất bằng việc tìm kiếm đối tác mới, từ đó các doanh nghiệp cứ thế mà vận động với tốc độ nhanh, giúp cho nền kinh tế thị trƣờng nhiều thành phần ở nƣớc ta phát 9 triển hơn.
Cũng vì mong muốn nhanh chóng giải quyết tranh chấp cũng đặt ra vấn đề trong việc xây dựng các phƣơng thức giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả, kín đáo và có giá trị pháp lý cao. Trên thực tế, khái niệm tranh chấp thƣơng mại đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau và có nhiều tên gọi khác nhau: Tranh chấp kinh tế, tranh chấp thƣơng mại, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp về kinh doanh, thƣơng mại. Khái niệm này lần đầu tiên đƣợc đề cập cùng với văn bản pháp luật đầu tƣ điều chỉnh lĩnh vực thƣơng mại: “Tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại”. Nhƣng do nhận thức về KDTM thời kỳ này chƣa cao và trình độ lập pháp chƣa hiệu quả nội hàm khái niệm trên đã bỏ sót nhiều quan hệ KDTM cũng xảy ra tranh chấp trong thực hiện nhƣ trong lĩnh vực xây dựng, bảo hiểm, đầu tƣ, ngân hàng,.
LTM 2005 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, tại Khoản 1 Điều 3 LTM 2005 định nghĩa “Hoạt động thƣơng mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” nhƣng lại bỏ đi quy định về khái niệm “tranh chấp thƣơng mại” – khái niệm đã đƣợc đề cập ở Luật Thƣơng mại 1997 cũng nhƣ không đƣa ra cách thức giải quyết các tranh chấp này. Đến khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực, khái niệm tranh chấp về kinh doanh, thƣơng mại một lần nữa đƣợc đề cập và việc giải quyết các tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp thƣơng mại” độc lập mà sử dụng chung thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại” nhƣng nội dung của các tranh chấp về kinh doanh thƣơng mại đƣợc quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự thực chất là các tranh chấp thƣơng mại theo hƣớng tiếp cận của LTM 2005. Điều đó cho thấy, mặc dù có sự khác nhau về cách thức biểu đạt và ngôn ngữ sử dụng nhƣng nhìn chung quan niệm về hoạt động thƣơng mại và tranh chấp thƣơng mại đƣợc thể hiện qua các quy định trong các văn bản pháp luật tƣơng đối nhất quán.
10 Hiện nay, vẫn chƣa có một khái niệm thống nhất hay văn bản pháp lý nào quy định về tranh chấp kinh doanh thƣơng mại mà nó mới chỉ dừng lại ở vấn đề quan điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp cận nó thông qua luật nội dung và luật tố tụng. Nhƣ vậy, có thể hiểu tranh chấp kinh doanh thƣơng mại là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thƣơng mại và đầu tƣ. Và có thể định nghĩa tranh chấp kinh doanh thƣơng mại nhƣ sau: “Tranh chấp kinh doanh thƣơng mại là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh thƣơng mại”. Từ định nghĩa nêu trên, ta nhận thấy tranh chấp KDTM gồm những đặc điểm cụ thể sau đây: Thứ nhất, chủ thể chủ yếu của tranh chấp kinh doanh thƣơng mại là thƣơng nhân, quan hệ kinh doanh thƣơng mại có thể đƣợc thiết lập giữa các thƣơng nhân với nhau hoặc giữa thƣơng nhân với bên không phải là thƣơng nhân.
Một tranh chấp đƣợc coi là tranh chấp kinh doanh thƣơng mại khi có ít nhất một bên là thƣơng nhân. Ngoài ra cũng có một số trƣờng hợp, các cá nhân, tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thƣơng mại: tranh chấp giữa công ty – thành viên công ty; tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, sáp nhập, giải thể, chia, tách công ty. Thứ hai, căn cứ phát sinh tranh chấp kinh doanh thƣơng mại là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật, trong nhiều trƣờng hợp, tranh chấp kinh doanh thƣơng mại phát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuy nhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhƣng không làm phát sinh tranh chấp. Nội dung của tranh chấp kinh doanh thƣơng mại là những xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong hoạt động KDTM.
Các quan hệ kinh doanh thƣơng mại có bản chất là các quan hệ tài sản, nên nội dung tranh chấp thƣơng liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên. Thứ ba, về các phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại, tranh chấp kinh doanh thƣơng mại đòi hỏi đƣợc giải quyết thỏa đáng nhằm bảo vệ quyền lợi 11 của các bên, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động thƣơng mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cƣơng xã hội. Hiện nay tranh chấp kinh doanh thƣơng mại đƣợc giải quyết bằng các phƣơng thức: thƣơng lƣợng, hòa giải, Trọng tài thƣơng mại và Tòa án. Mỗi phƣơng thức có sự khác nhau về tính chất pháp lý, nội dung của thủ tục, trình tự tiến hành.
Đề tài luận văn là Pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn tại tòa án nhân dân huyện An Dƣơng – Hải Phòng. Vì vậy phải xây dựng cho đƣợc khái niệm về pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM tại tòa án nhân dân theo thủ tục sơ thẩm. Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại tại Tòa án là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình giải quyết các tranh chấp kinh doanh thƣơng mại tại Tòa án sơ thẩm, nhằm phân xử làm rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên, buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên vi phạm. Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại tại Tòa án cấp sơ thẩm đƣợc tiến hành khi có một bên cho rằng quyền lợi của họ bị xâm phạm và có đơn yêu cầu đến Tòa án giải quyết.
Từ đó, các bên sẽ nhận đƣợc phán quyết của Tòa án sơ thẩm nhằm xác định lại quyền và nghĩa vụ, giữ gìn tình đoàn kết, dung hòa các xung đột. Cùng với phƣơng thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án hiện nay ở nƣớc ta thì phƣơng thức giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài cũng đƣợc quan tâm. Trong cơ chế thị trƣờng, cùng với sự vận động đa dạng và phức tạp của các quan hệ kinh tế trong nƣớc cũng nhƣ quan hệ thƣơng mại quốc tế, trọng tài ngày càng khẳng định vai trò trong giải quyết các tranh chấp thƣơng mại. “Trọng tài thƣơng mại là phƣơng thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và đƣợc tiến hành theo quy định của Luật này”.
Do đó, trọng tài không có thẩm quyền đƣơng nhiên đối với một vụ tranh chấp mà chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên tranh chấp thỏa thuận chỉ định (thỏa thuận trọng tài). Chính vì vậy, BLTTDS cũng đã quy định tại chƣơng 32 về thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động Trọng tài Thƣơng mại Việt Nam. Tuy nhiên việc này làm kéo dài thời gian khi phải 12 thông qua hai phƣơng thức giải quyết và thủ tục tố tụng cũng không rõ ràng khi các chủ thể kinh tế muốn thực hiện.