phần mở đầu thì nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về khởi kiện và thụ lý tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật Tố tụng dân sự về khởi kiện và thụ lý tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại tại TAND thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao việc khởi kiện và thụ lý tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại tại TAND thành phố Hà Nội 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA KHỞI KIỆN TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại Tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại là một trong những hệ quả của hoạt động thƣơng mại và là hiện tƣợng phổ biến, thƣờng xuyên trong nền kinh tế thị trƣờng.
Khái niệm này mới đƣợc sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nƣớc ta trong những năm gần đây, khi nó nhƣờng chỗ cho khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc, có nguồn gốc sâu xa trong cơ chế kinh doanh kế hoạch hoá đã in sâu trong tiềm thức và tƣ duy pháp luật của ngƣời Việt. Khi tách ra từng khái niệm, thuật ngữ “tranh chấp” thƣờng đƣợc hiểu là những bất đồng, xung đột phát sinh từ quyền, nghĩa vụ giữa các bên liên quan. Theo từ điển Tiếng Việt, tranh chấp đƣợc hiểu là Giành nhau một cách giằng co cải không rõ thuộc về bên nào. Vùng tranh chấp ở biên giới hai nƣớc.
Hoặc là Đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng thƣờng là trong vấn để quyển lợi giữa hai bên [16,tr. Ở phƣơng diện pháp lý, đối với những bất đồng, xung đột phát sinh từ quan hệ xã hội khác nhau do mỗi ngành luật điều chỉnh lại có những cách gọi khác nhau theo ngành luật đó. Khái niệm tranh chấp thƣơng mại lần đầu tiên đƣợc đề cập trong Luật thƣơng mại ngày 10/5/1997, theo văn bản này thì tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thƣơng mại. Theo văn bản, tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đƣợc các bên tham gia vào hoạt động thƣơng mại.
Theo từng thời kỳ, hoạt động thƣơng mại lại bao gồm nhiều hình thức mới đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng. Do đó, đến năm 2005, tại khoản 1 Điều 3 Luật 7 Thƣơng mại 2005 đƣa ra khái niệm hoạt động thƣơng mại cụ thể. Theo đó, “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” [20].Theo định nghĩa này thì hoạt động thƣơng mại đƣợc mở rộng bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi. Đến khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”[19].
Nhƣ vậy, về mặt cơ học có thể hiểu tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại là những bất đồng, xung đột phát sinh từ quyền, nghĩa vụ giữa các bên liên quan thực hiện hoạt động thƣơng mại nhằm mục đích sinh lợi. Theo Điều 30 BLTTDS năm 2015 thì không có khái niệm cụ thể về tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại mà chỉ liệt kê các loại tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thƣơng mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự. Nhƣ vậy, có thể hiểu tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại là những bất đồng, xung đột phát sinh từ quyền, nghĩa vụ giữa các bên liên quan thực hiện hoạt động thƣơng mại nhằm mục đích sinh lợi. Tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại diễn ra chủ yếu giữa các thƣơng nhân với nhau.
Tuy nhiên trong một số trƣờng hợp, các cá nhân, tổ chức không phải là thƣơng nhân cũng có thể là chủ thể của tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại. Điều này xuất phát từ đặc điểm của từng mối quan hệ thƣơng mại cụ thể. Có mối quan hệ thƣơng mại phải đƣợc giao kết giữa các thƣơng nhân với nhau, tuy nhiên cũng có những mối quan hệ thƣơng mại có thể đƣợc giao kết giữa thƣơng nhân với các nhân, tổ chức không phải là thƣơng nhân. Khoản 3 Điều 29 BLTTDS 2015 có quy định về một loại tranh chấp không diễn ra giữa các thƣơng nhân với nhau.
Đó là tranh chấp giữa các công ty và thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan 8 đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Hiện nay, pháp luật TTDS Việt Nam quy định hai loại trình tự tố tụng hoàn toàn khác nhau đó là thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và thủ tục giải quyết những yêu cầu về kinh doanh, thƣơng mại. Vậy tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại là gì và nó có gì khác so với yêu cầu về kinh doanh, thƣơng mại. - Yêu cầu kinh doanh, thƣơng mại: Do trƣớc đây pháp luật tố tụng không phân biệt giữa VADS và việc dân sự nên dù có tranh chấp hay không có tranh chấp đều đƣợc gọi là vụ án và đƣợc thực hiện theo một trình tự, thủ tục chung.
Tuy nhiên, qua thực tiễn về giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thƣơng mại cho thấy nếu áp dụng thủ tục phiên tòa cho một số loại việc không có tranh chấp, việc xác nhận một sự kiện pháp lý nào đó thì vừa rƣờm rà, mất thời gian, tốn kém cho các bên và nhà nƣớc. Vì vậy, BLTTDS năm 2004, BLTTDS năm 2015 đã xác định đối với các vụ việc kinh doanh, thƣơng mại mà cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhƣng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ từ quan hệ kinh doanh, thƣơng mại của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác nhƣ: Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thƣơng mại Việt Nam giải quyết các tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thƣơng mại hay yêu cầu công nhận và cho thi hành án tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, thƣơng mại của Tòa án nƣớc ngoài… - Tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại là việc các bên có mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh, thƣơng mại. Trong đó, nguyên đơn là ngƣời khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại khi cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm. Nhƣ vậy, căn cứ quan trọng nhất để phân biệt giữa tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và yêu cầu về kinh doanh, thƣơng mại là giữa các bên có tranh chấp hay không? Nếu không có tranh chấp thì 9 xác định là việc dân sự về kinh doanh, thƣơng mại, nếu các bên đƣơng sự có mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ kinh doanh, thƣơng mại thì là tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại.
Từ những quy định trên có thể hiểu: “Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại”. Khái niệm, đặc điểm của khởi kiện tranh chấp kinh doanh, thương mại 1. Khái niệm khởi kiện tranh chấp kinh doanh, thương mại Trƣớc tiên để đƣa ra khái niệm khởi kiện tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại cần làm rõ khái niệm khởi kiện VADS. Trong quá trình phát triển xã hội, khi nhà nƣớc và pháp luật đƣợc thiết lập thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đƣợc pháp luật thừa nhận và bảo đảm thông qua các thể chế do nhà nƣớc thiết lập.
Theo đó, quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân đã đƣợc pháp luật ghi nhận, tạo mọi điều kiện để các chủ thể thực hiện quyền của mình, đồng thời, bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể khi bị xâm phạm bằng việc quy định chủ thể đó có quyền yêu cầu ngƣời có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại hoặc yêu cầu ngƣời có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình. hoặc yêu cầu cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền công nhận quyền dân sự của họ; buộc ngƣời có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thƣờng thiệt hại. Khi các quyền và lợi ích của các chủ thể bị xâm phạm hay có tranh chấp thì các chủ thể có thể lựa chọn nhiều phƣơng thức giải quyết; bằng phƣơng thức thƣơng lƣợng, trung gian, hòa giải; giải quyết ở cơ quan tài phán phi nhà nƣớc hoặc giải quyết ở Toà án. Tuy nhiên, phƣơng thức chủ thể gửi đơn đến Tòa án để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc ngƣời có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, phải bồi thƣờng thiệt hại để phục hồi các quyền dân sự, phải thực hiện nghĩa vụ dân sự.
là 10 một phƣơng thức giải quyết khá phổ biến trên thực tế. Khi các quyền và lợi ích của các chủ thể bị xâm phạm hay có tranh chấp thì các chủ thể lựa chọn khởi kiện ra Toà án có thẩm quyền thì gọi là khởi kiện VADS. Khởi kiện VADS là khả năng của cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết yêu cầu của mình đối với ngƣời có hành vi vi phạm. Khái niệm “Khởi kiện VADS” theo TS.
Hoàng Ngọc Thỉnh cho rằng: “Quyền khởi kiện VADS là quyền quan trọng của các chủ thể. Nó cho phép cá nhân cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Việc thực hiện quyền này của các chủ thể được gọi là khởi kiện VADS”. Và “Khởi kiện VADS là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác”[4, tr.