Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỨNG CỨ ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về chứng cứ và chứng cứ điện tử 1. Khái niệm chứng cứ và chứng cứ điện tử 1. Khái niệm chứng cứ Chứng cứ và chứng minh là vấn đề cốt lõi, trọng tâm trong pháp luật tố tụng.
Bất kỳ một vụ việc nào cũng cần có chứng cứ để chứng minh sự thật khách quan. Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng phải dựa vào chứng cứ để bảo vệ quan điểm của mình đối với sự kiện pháp lý mà các bên đang có tranh chấp hoặc để đưa ra những quyết định, hành vi tố tụng phù hợp có tính thuyết phục đối với các chủ thể khác. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Chứng cứ là cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định điều gì đó đúng hay sai, thật hay giả”2. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.”3 Có thể hiểu, “những gì có thật” là những tình tiết, yếu tố, phản ánh đúng với bản chất của sự kiện phạm tội đã xảy ra như nó vốn có của nó.
Có thể nói đây chính là những thông tin về sự kiện phạm tội được thu thập và phản ánh lại đúng sự thật, giúp cho người tiến hành tố tụng trong quan hệ tố tụng hình sự nhận thức về vụ việc mang tính hình sự hoặc vụ án hình sự tại thời điểm xem xét, giải quyết. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập 2 Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 2001. 3 Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 9 được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.”4 Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015: “Chứng cứ trong vụ án hành chính là những gì có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định mà Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.”5 Theo quy định của pháp luật tố tụng, “những gì có thật” được hiểu là những tình tiết, yếu tố phản ánh đúng với bản chất của sự kiện pháp lý đã xảy ra như nó vốn có và đang được người tiến hành tố tụng đưa ra xem xét để bảo vệ quan điểm của mình, từ đó có thể bác bỏ quan điểm của chủ thể khác, cũng như dùng để làm cơ sở đưa ra những quyết định, hành vi tố tụng phù hợp với quy định pháp luật tại thời điểm xem xét, giải quyết vụ việc, làm sáng tỏ nội dung, tình tiết để giải quyết các vụ việc một cách đúng đắn.
Như vậy, có thể hiểu chứng cứ là những tình tiết, yếu tố phản ánh bản chất của sự kiện pháp lý đã xảy ra một cách khách quan và được các chủ thể tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng đưa ra xem xét để chứng minh, bảo vệ quan điểm của mình trong một vụ việc cụ thể. Khái niệm chứng cứ điện tử Chứng cứ điện tử là một trong những loại chứng cứ quan trọng trong quá trình chứng minh và đã được pháp luật các nước trên thế giới cũng như Việt Nam ghi nhận. Tuy nhiên, chưa có khái niệm pháp lý chính thức nào về “chứng cứ điện tử”. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa “chứng cứ điện tử”, có hai cách tiếp cận về chứng cứ điện tử: Chứng cứ điện tử đồng nghĩa với chứng cứ 4 Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
5 Điều 80 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. 10 kỹ thuật số hoặc chứng cứ điện tử bao gồm chứng cứ được tạo ra theo kỹ thuật tương tự (analog) như máy ảnh, băng ghi âm, ghi hình và chứng cứ kỹ thuật số. “Theo Hướng dẫn về chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính (Guidelineson Electronic Evidenceand Explanatory Memorandum) được thông qua bởi Ủy ban Bộ trưởng của Hội đồng Châu Âu ngày 30/01/2019 định nghĩa về chứng cứ điện tử được định nghĩa như sau: “Chứng cứ điện tử có nghĩa là bất kỳ chứng cứ nào phát sinh từ dữ liệu chứa đựng hoặc được tạo ra bởi bất kỳ thiết bị nào mà chức năng của nó phụ thuộc vào một chương trình phần mềm hoặc dữ liệu được lưu trữ trên hay truyền qua hệ thống máy tính hoặc mạng”. Như vậy, trong hướng dẫn này Hội đồng Châu Âu cho rằng chứng cứ điện tử trước hết là chứng cứ và dựa vào cách thức khởi tạo của nó để xác định là chứng cứ điện tử.
Trong cuốn Handlingand Exchanging Electronic Evidence Across Europe của các tác giả Maria Angle Biasiotti; Jeanne Pia Mifsud Bonnici; Joe Cannataci- Fabrizio Turchi có định nghĩa về chứng cứ điện tử như sau: “Chứng cứ điện tử là bất kỳ dữ liệu nào phát sinh từ đầu ra của một thiết bị tương tự (analog) và/hoặc một thiết bị kỹ thuật số, có giá trị chứng minh tiềm năng và chúng được tạo ra, xử lý lưu trữ hoặc truyền đi bằng bất kỳ thiết bị điện tử nào. Chứng cứ kỹ thuật số là chứng cứ điện tử được tạo ra hoặc chuyển đổi sang định dạng số”. … Theo cuốn Electronic Evidence của các tác giả Stephen Mason và Daniel Seng, tác giả đề xuất định nghĩa sau: “Chứng cứ điện tử là dữ liệu (bao gồm đầu ra của các thiết bị tương tự hoặc dữ liệu ở dạng kỹ thuật số) được thao tác, lưu trữ hoặc truyền đi bởi thiết bị máy tính hoặc hệ thống máy tính hoặc hệ thống liên lạc. Định nghĩa này khẳng định chứng cứ điện tử là dữ liệu bao gồm tất cả các dạng chứng cứ được tạo ra, thao tác hoặc lưu trữ trong một thiết bị (máy tính).”6 Ngoài ra, một số tác giả như Maria Angle Biasiotti; Jeanne Pia Mifsud Bonnici; Joe Cannataci-Fabrizio Turchi, Stephen Mason và Daniel Seng hiểu chứng 6 Lê Thị Hòa, Chứng cứ điện tử trong Tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021.
11 cứ điện tử bao gồm chứng cứ được tạo ra theo kỹ thuật tương tự (analog) như máy ảnh, băng ghi âm, ghi hình và chứng cứ kỹ thuật số. Như vậy, Hội đồng Châu Âu và các tác giả này hiểu về chứng cứ điện tử và đưa ra định nghĩa về chứng cứ điện tử chỉ dựa vào cách thức khởi tạo của nó, cách hiểu này đơn giản theo đúng bản chất về dữ liệu điện tử. Trong bài viết “Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại” của tác giả Lê Văn Thiệp đăng trên tạp chí Viện kiểm sát có đưa ra định nghĩa về chứng cứ điện tử như sau: “Chứng cứ điện tử là thông điệp dữ liệu được khởi tạo, lưu trữ, truyền tải, nghe, nhìn được bằng phương tiện điện tử và đảm bảo các yêu cầu của pháp luật về cách thức khởi tạo và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu cũng như các yếu tố phù hợp khác. Chứng cứ điện tử do các chủ thể tham gia quan hệ thương mại điện tử lưu giữ, thu thập cung cấp cho Tòa án hoặc do Tòa án, cơ quan có thẩm quyền thu thập nhằm chứng minh cho các yêu cầu của các chủ thể này khi giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại bằng các phương thức khác nhau trong đó có phương thức giải quyết bằng các thủ tục tố tụng”7.
Ngoài ra, trong Luận văn thạc sĩ luật học “Chứng cứ điện tử trong tố dụng dân sự” của tác giả Lê Thị Hòa cũng có xây dựng định nghĩa chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự như sau: “Chứng cứ điện tử là dữ liệu có thật được chứa đựng hoặc được tạo ra bởi bất kỳ thiết bị nào mà chức năng của nó phụ thuộc vào một chương trình phầm mềm hoặc dữ liệu được lưu trữ trên hoặc truyền qua hệ thống máy tính hoặc mạng, được thu thập theo trình tự do pháp luật tố tụng dân sự quy định và được Tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự”8. Tác giả Lê Văn Thiệp và Lê Thị Hòa đưa ra định nghĩa về chứng cứ điện tử không chỉ dựa vào cách khởi tạo của dữ liệu điện tử mà còn kết hợp với pháp luật tố tụng về chứng cứ. 7 Lê Văn Thiệp, Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án – Một số kiến nghị, Tạp chí Kiểm sát, số 05 (tháng 3/2016). 8 Lê Thị Hòa, Chứng cứ điện tử trong Tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021.
12 Ngoài những loại nguồn chứng cứ “truyền thống” như vật chứng, lời khai, lời trình bày, kết luận giám định, định giá tài sản, biên bản hòa giải, … thì pháp luật về Tố tụng đã bổ sung nguồn chứng cứ mới là “dữ liệu điện tử”9 còn được gọi là “chứng cứ điện tử”. Mặc dù, pháp luật hiện hành cũng đã thừa nhận chứng cứ điện tử nhưng chưa có khái niệm pháp lý chính thức về “chứng cứ điện tử”. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 có quy định về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử và có khái niệm dữ liệu điện tử bằng hình thức liệt kê các loại dữ liệu điện tử: “Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác”10.