CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN CHUNG LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm về tài sản chung là Quyền sử dụng đất của hộ gia đình 1. Khái niệm tài sản thuộc sở hữu chung Một trong những điều khác biệt nhất giữa con người và loài vật là con người có tài sản và quyền sở hữu tài sản.
Quyền sở hữu tài sản là mối quan tâm cơ bản của con người. Sự ham muốn sở hữu tài sản khiến xã hội con người từ chỗ mông muội sơ khai chuyển sang trồng trọt chăn nuôi, lao động để tạo ra của cải phục vụ cho nhu cầu của mình, sau đó mới chuyển sang nhu cầu trao đổi, mua bán, rồi hình thành thị trường sản xuất kinh doanh, tạo nên nguồn vốn tư bản phát triển không ngừng. Như vậy tài sản và quyền sở hữu có thể xem như là động cơ cho sự phát triển của xã hội loài người3. Theo quy định tại khoản 1 điều 105 BLDS, “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
Vật, tiền, giấy tờ có giá có thể coi là những vật hữu hình, có thể cầm nắm đo đếm được; còn quyền tài sản chỉ được xem là tồn tại khi được ghi nhận bằng một hình thức được pháp luật thừa nhận. Tài sản thuộc sở hữu cá nhân riêng lẻ hoặc đối với trường hợp từ hai người trở lên cùng sở hữu tài sản thì pháp luật có khái niệm tài sản thuộc sở hữu chung. Tài sản chung bao gồm tài sản thuộc sở hữu chung theo phần và tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất. Theo quy định tại khoản 1 điều 209 BLDS, “sở hữu chung theo phần là hình thức sở hữu mà trong đó phần quyền của mỗi chủ sở hữu được 3 “Những bản văn đầu tiên trong lịch sử không mang ý nghĩa triết học, thơ phú, huyền thoại, luật pháp hoặc thậm chí là những chiến thắng hoàng gia.
Chúng là những tài liệu kinh tế buồn tẻ, ghi lại việc trả thuế, sự tích lũy các món nợ và quyền sở hữu tài sản”, Yuval Noah Harari, 2017, “Lược sử loài người”, Nhà xuất bản Tri thức, trang 57. Dịch giả: Nguyễn Thủy Chung. 7 123doc 8 xác định đối với tài sản chung”. Cụ thể là mỗi chủ sở hữu được xác định phần quyền của họ trong khối tài sản chung, ví dụ ½, 1/3,… Ngoài ra, pháp luật còn có quy định về hình thức sở hữu chung hợp nhất, trong đó phần quyền của các chủ sở hữu chung không xác định được, ví dụ như tài sản chung cuả vợ chồng.
Mặt khác, xuất phát từ việc hợp tác góp vốn kinh doanh kiếm lợi nhuận trên thực tế, pháp luật dân sự còn quy định hình thức sở hữu chung hỗn hợp, theo điều 315 Bộ luật Dân sự. Một dạng hình thức sở hữu chung là sở hữu chung của cộng đồng được hình thành từ tập quán xã hội, được quy định tại khoản 1 điều 211 BLDS. Theo khoản 1 điều 217 Bộ luật Dân sự, “Các chủ sở hữu chung có thể thỏa thuận với nhau về việc quản lý đối với tài sản chung, mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Quyền sở hữu chung đối với tài sản có những đặc trưng khi định đoạt, ví dụ đối với “tài sản thuộc sở hữu chung theo phần thì các chủ sở hữu có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình, tuy nhiên các chủ sở hữu chung theo phần khác có quyền ưu tiên mua đối với tài sản chung”, theo điều 218 Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, điều 218 Bộ luật Dân sự cũng quy định: “Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung. Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu 8 123doc 9 Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.
Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại. Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật này”. Còn đối với sở hữu chung hợp nhất, việc định đoạt tài sản chung do các bên đồng chủ sở hữu chung thỏa thuận. Nếu không thoả thuận được có quyền yêu cầu Tòa án gỉai quyết, đối với trường hợp chia tài sản chung cuả vợ chồng thì Tòa án phải vận dụng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.
Theo điều 220 Bộ luật Dân sự, “Sở hữu chung đối với tài sản sẽ chấm dứt khi tài sản chung được các đồng sở hữu chia, hoặc không còn tài sản chung, hoặc có một chủ sở hữu trong các đồng sở hữu chung được hưởng toàn bộ tài sản chung, thường gặp khi các bên chuyển nhượng, tặng cho nhau phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, cùng các trường hợp khác do pháp luật quy định”. Khái niệm Quyền sử dụng đất của Hộ gia đình Với đặc điểm là một nước nông nghiệp, cộng đồng dân cư làm nông quây quần trong từng làng xã, HGĐ là một đơn vị dân cư cơ bản của Việt Nam từ chế độ phong kiến đến nay. Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước đã có chính sách giao đất cho các thành viên trong HGĐ. Đất đai với đặc điểm là nguồn lực phát triển kinh tế, tài nguyên quý giá của quốc gia được Nhà nước giao 9 123doc 10 đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ cho người sử dụng đất bao gồm các tổ chức, cá nhân.4 Theo quy định của LĐĐ năm 2013, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện cho toàn dân sở hữu và quản lý thống nhất trên toàn quốc.
Người sử dụng đất có quyền sử dụng sau khi Nhà nước trao quyền cho họ.5 Theo Từ điển Luật học năm 2006 thì "QSDĐ là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho. Như vậy QSDĐ là một loại quyền về tài sản, được hình thành trên cơ sở quyền sở hữu của Nhà nước về đất đai. Có nghĩa đây là quyền phái sinh, chỉ xuất hiện khi Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, công nhận QSDĐ. Do là một loại quyền tài sản nên QSDĐ có thể trị giá được bằng tiền và được phép giao dịch trên thị trường.
Theo quy định tại điều 5 của Luật đất đai 2013 thì Người sử dụng đất là người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ, hoặc là người nhận chuyển QSDĐ từ người khác. Cũng theo quy định tại điều luật này thì người sử dụng đất có thể là “HGĐ, cá nhân trong nước” theo khoản 3 điều 5 Luật Đất đai 2013. Về lịch sử lập pháp của Việt Nam thì chủ thể sử dụng đất là HGĐ đã được Nhà nước quy định từ LĐĐ 1993. Chủ thể này có nguồn gốc từ việc các hợp tác xã giao đất lại cho các HGĐ sản xuất nông nghiệp căn cứ vào số nhân khẩu trong hộ.
Tuy nhiên, khái niệm thế nào là HGĐ sử dụng đất thì luật lại không đề cập đến suốt cả một thời gian dài 20 năm. Cho đến Bộ luật Dân sự 2005, Pháp luật mới có quy 4 Điều 54 Hiến pháp: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ. Người sử dụng đất được chuyển QSDĐ, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật.
QSDĐ được pháp luật bảo hộ”. 5 Điều 54 LĐĐ 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao QSDĐ cho người sử dụng đất theo quy định tại luật này”. 1 0 123doc 11 định cụ thể về tài sản chung của hộ gia đình như sau: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”.
Tức quyền sử dụng đất của thành viên trong hộ gia đình chỉ được tính khi thành viên đó có đóng góp công sức vào quyền sử dụng đất. Dẫn đến có quan điểm cho rằng thành viên trong hộ là trẻ em đương nhiên không có quyền sử dụng đất6. Mặt khác, cũng có quan điểm cho rằng việc xác định ai là thành viên hộ gia đình phải căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , không quan trọng thời điểm đất được giao cho hộ là lúc nào7.