Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 1.1 Những vấn đề lý luận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh.1 Định nghĩa hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh là liều thuốc thần kỳ tạo nên động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, là nguồn gốc để phát triển khoa học - kỹ thuật và công nghệ cao; nhờ có cạnh tranh mà các doanh nghiệp luôn vận động, đổi mới liên tục để phát huy hết khả năng, tạo ra sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao. Tuy nhiên cạnh tranh chỉ có thể phát huy được những ưu điểm khi được đặt trong một môi trường “lành mạnh”. Cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh một cách hợp pháp, trong sạch, bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong cùng một lĩnh vực, ngành nghề nhằm chiếm lĩnh thị phần, thúc đẩy kinh doanh hàng hóa dịch vụ mà không sử dụng thủ đoạn, gian dối, mờ ám, bất chính nhằm loại bỏ đối thủ, tranh giành thị trường.
Bên cạnh đó, cạnh tranh lành mạnh còn là khái niệm bao gồm những tiêu chuẩn về hành vi và kết cấu thị trường cần tuân thủ để đảm bảo thị trường vận hành một cách hiệu quả đạt được hiệu quả thị trường mong muốn: - Số lượng người bán lớn hoặc đủ lớn, không có người chi phối thị trường, hoặc ít nhất cũng có nhiều người chi phối thị trường, được thị trường chấp nhận khi kinh tế quy mô cho phép họ làm điều đó. - Không có trở ngại nào đối với sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp. - Sự phân loại chất lượng và giá cả có tính chất cạnh tranh. Trong quá trình hình thành các quan hệ kinh doanh, giữa các doanh nhân còn tồn tại các tập quán, thói quen, đạo đức kinh doanh và luật doanh nhân.
Khi những luật lệ này được hình thành và được tuân thủ trong quá trình hoạt động kinh doanh, sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh có cạnh tranh lành mạnh. Việc đảm bảo cho doanh nghiệp một môi trường kinh doanh lành mạnh là mục tiêu hướng đến của pháp luật các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Do đó, pháp luật các quốc gia thường 7 hướng đến việc ngăn ngừa và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ảnh hưởng đến thị trường, đến các doanh nghiệp và cả khách hàng hay người tiêu dùng. Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh bắt đầu xuất hiện từ nửa sau thế kỷ 19 tại Châu Âu, gắn với sự ra đời của thương mại tự do ở Pháp vào đầu năm 1791.
Tuy nhiên, cho đến giai đoạn đó, những quy định chặt chẽ để đảm bảo cho các hoạt động thương mại lành mạnh và công bằng được diễn ra gần như chưa được hoàn thiện. Do vậy, các doanh nhân ở hầu hết các nước Châu Âu lúc bấy giờ nhận ra sự cần thiết trong việc tạo ra những luật chơi chung giữa các doanh nghiệp. Ở thời kỳ này, tại Pháp đã phát triển những quy định liên quan đến việc bảo vệ lợi ích pháp lý cho doanh nhân được đề cập trong Điều 1382 của Bộ luật Dân sự trên cơ sở các điều khoản về bồi thường thiệt hại1. Điều khoản này quy định việc bảo vệ doanh nghiệp khỏi một số hành vi như bắt chước, gièm pha, tiết lộ bí mật, cạnh tranh kí sinh… Một số các quốc gia khác lựa chọn con đường độc lập hơn bằng cách ban hành ra đạo luật riêng về cạnh tranh để đảm bảo được tính hệ thống trong pháp luật, ví dụ như Đức.
Trong khi đó, Anh Quốc lại lựa chọn phát triển theo hướng phù hợp với hệ thống thông luật và luật công bình của mình. Khi các quốc gia thành viên xuất hiện việc phát triển Luật Cạnh tranh theo các hướng khác nhau thì một vấn đề đặt ra cho Liên minh Châu Âu vào đầu thế kỷ 20 chính là cần hài hòa hóa các quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh ở cấp độ khu vực hay quốc tế. Trong hai bộ phận pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trên thị trường, có thể thấy, pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh ra đời sớm hơn và độc lập so với pháp luật về hạn chế cạnh tranh. Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh ra đời gắn với sự sự phát triển của một số các pháp luật liên quan là pháp luật về bồi thường thiệt hại, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật về chống độc quyền.
Cho đến nay, vai trò của cạnh tranh trong việc cân bằng cung cầu trên thị trường, tạo động lực đổi mới và phát triển cũng như bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng đã được thừa nhận rộng rãi. Tuy nhiên, để đem lại những lợi 1 Frauke Henning - Bodewig (2006), Unfair competition law: European Union and Member States, Kluwer Law International, P. 8 ích như vậy, hoạt động cạnh tranh cần được duy trì trong khuôn khổ lành mạnh và tuân theo những nguyên tắc nhất định. Có thể hiểu đơn giản, cạnh tranh không lành mạnh là thứ cạnh tranh quá mức và vì thế gây tác dụng ngược.
Doanh nhân nổi tiếng Jacob Kindleberger đã từng nói: “Đừng hạ gục đối thủ cạnh tranh của bạn. Bằng cách thúc đẩy những người khác, bạn sẽ thúc đẩy chính mình. Một chút cạnh tranh là một điều tốt và cạnh tranh gay gắt là một điều may mắn. Cảm ơn Chúa vì sự cạnh tranh”2.
Do đó, yêu cầu đặt ra cho mỗi quốc gia chính là bảo vệ sự cạnh tranh trên thị trường và ngăn chặn những hành vi có thể gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh từ những doanh nghiệp bằng việc tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng bất kỳ thủ đoạn nào. Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh cũng được xây dựng trên tinh thần chung của pháp luật cạnh tranh là can thiệp và bảo đảm cạnh tranh tự do trên thị trường. Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường cũng đồng nghĩa với quyền tự do cạnh tranh, theo đó doanh nghiệp được làm những gì mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên, tự do kinh doanh hay tự do cạnh tranh cũng đều có giới hạn.
Đó là không được ảnh hưởng đến sự tự do của người khác, của các chủ thể khác tham gia thị trường, bao gồm các doanh nghiệp cạnh tranh và khách hàng. Khi nói đến định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh, trong các văn bản pháp luật nước ngoài hoặc luật quốc tế thường sử dụng thuật ngữ “unfair”. Từ khi pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh (unfair competition) ra đời tại Châu Âu, hầu hết các quốc gia thành viên không đưa ra định nghĩa chính thức về chế định này mà thường lựa chọn giải thích khái niệm này thông qua các hành vi cụ thể hoặc theo cách giải thích của Tòa án (tại các nước theo trường phái thông luật như Anh Quốc). Do đó, khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh thường được viện dẫn từ quy định trong Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 18333: “Bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh”.
Trong định nghĩa này, công ước Paris đưa ra điểm quan trong của hành vi cạnh tranh không lành mạnh đó là trái với những tập quán trung trực trong thương mại – song cách hiểu này lại 2 Phát biểu của doanh nhân Jacob Kindleberger (1875-1947) 3 Điều 10bis Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1833 9 gần với những quan niệm về đạo đức kinh doanh hơn là những tiêu chuẩn pháp luật. Trong nỗ lực làm rõ hơn định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh, Chỉ thị 2005/29/EC về các tập quán thương mại không công bằng của Liên minh Châu Âu đã xác định: “Một hoạt động thương mại sẽ không công bằng nếu: (a) Nó trái với yêu cầu của nghĩa vụ cẩn trọng; (b) Nó làm sai lệch đáng kể hoặc có khả năng làm sai lệch đáng kể hành vi kinh tế liên quan đến sản phẩm của người tiêu dùng bình thường mà nó tiếp cận hoặc nhắm tới, hoặc của thành viên trung bình của nhóm khi một thông lệ thương mại hướng đến một nhóm người cụ thể người tiêu dùng.”4 Định nghĩa này mở rộng hơn về hành vi vi phạm “nghĩa vụ cẩn trọng” thông qua việc không trung thực và thiện chí trong các hoạt động của thương nhân gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng hoặc khách hàng. Như vậy, đa phần khái niệm cạnh tranh không lành mạnh được xây dựng dựa trên yếu tố về tập quán thương mại, đạo đức kinh doanh và các chuẩn mực của doanh nhân trong hoạt động thương mại5. Pháp luật của các quốc gia trên thế giới chia làm 3 xu hướng chính: (2) Đưa các chế định về cạnh tranh không lành mạnh nằm trong chế định về bồi thường thiệt hại của pháp luật dân sự (như Pháp); (2) Tách các quy định về cạnh tranh thành một văn bản pháp luật riêng biệt (như Đức); và (3) Để các quy định này tồn tại trong các án lệ (các quốc gia thông luật).
Tại điều 10bis Công ước Paris 1833 đã đưa ra một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm: “1. Tất cả những hành động có khả năng gây nhầm lẫn dưới bất cứ hình thức nào đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của người cạnh tranh; 2. Những khẳng định sai lệch trong hoạt động thương mại có khả năng gây mất uy tín đối với cơ sở, hàng hoá, hoạt động công nghiệp hoặc thương mại của người cạnh tranh; 4 Điều 5, Chỉ thị 2005/29/EC Liên minh Châu Âu 5 Frauke Henning - Bodewig (2006), Unfair competition law: European Union and Member States, Kluwer Law International, P. Những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng của hàng hoá.”6 Trong khi đó, tại Chỉ thị 2005/29/EC Liên minh Châu Âu, rất nhiều các hành vi bị cấm do vi phạm cạnh tranh không lành mạnh được chia ra làm 2 nhóm chính, là các hành vi gây nhầm lẫn sai lệch về thông tin sản phẩm (quy định tại Điều 6 và Điều 7) và các hành vi tấn công thương mại như: Gây rối, ép buộc, sử dụng vũ lực hay tâm lý để bắt buộc các chủ thể khác hoặc các hành vi nhằm tác động đến quyết định của người tiêu dùng (quy định tại Điều 8 và Điều 9).