Tổng quan nghiên cứu

Thị trường bất động sản Việt Nam sau gần 30 năm hình thành và phát triển từ đầu những năm 1990 đã trở thành kênh thu hút nguồn lực kinh tế quan trọng, với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) rót vào lĩnh vực này vượt mốc 3,3 tỷ USD trong những năm gần đây. Sự bùng nổ của các dự án nhà ở thương mại hình thành trong tương lai mang lại nguồn cung nhà ở dồi dào, song cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nghiêm trọng cho khách hàng mua nhà khi chủ đầu tư chậm bàn giao, chậm hoàn trả tiền ứng trước hoặc chiếm dụng 2% kinh phí bảo trì. Nhằm bảo vệ người tiêu dùng, Điều 56 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 cùng Thông tư số 07/2015/TT-NHNN và Thông tư số 13/2017/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước đã thiết lập cơ chế bảo lãnh ngân hàng bắt buộc.

Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế còn mang nặng tính hình thức đối phó, khiến tỷ lệ người mua nhà nhận được thư bảo lãnh cá thể hóa đạt mức rất khiêm tốn trên thị trường. Mục tiêu của luận văn là làm sáng tỏ bản chất lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng cơ chế bảo lãnh nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn 2015-2020. Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học nhằm tháo gỡ xung đột giữa luật chuyên ngành và văn bản dưới luật, hướng tới mục tiêu gia tăng tính minh bạch cho 100% dự án thương mại và giảm thiểu đến 80% rủi ro tranh chấp tài chính phát sinh cho người mua nhà.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết pháp lý đa tầng để tiếp cận vấn đề bảo lãnh nghĩa vụ tài chính trong hoạt động kinh doanh bất động sản:

Thứ nhất, lý thuyết về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo Bộ luật Dân sự 2015, đặt trọng tâm vào chế định bảo lãnh được quy định tại Điều 335 và Điều 336 trong mối tương quan với 9 biện pháp bảo đảm luật định. Luận văn phân tích bảo lãnh dưới góc độ bản chất đối nhân kết hợp đối vật, trong đó bên bảo lãnh cam kết dùng uy tín và toàn bộ khối tài sản hợp pháp của mình để thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh.

Thứ hai, lý thuyết bảo vệ bên yếu thế trong giao dịch bất động sản và lý thuyết bất đối xứng thông tin. Trong quan hệ mua bán nhà ở hình thành trong tương lai, người mua nhà luôn chịu thiệt thòi về thông tin dự án và tiến độ giải ngân vốn, do đó sự can thiệp của pháp luật bắt buộc ngân hàng thương mại phát hành bảo lãnh là công cụ cân bằng lợi ích thiết yếu.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai theo Khoản 1 Điều 12 Thông tư số 07/2015/TT-NHNN, thỏa thuận cấp bảo lãnh theo Điều 14, cam kết bảo lãnh theo Điều 15 và phạm vi nghĩa vụ tài chính bảo lãnh (bao gồm hoàn trả tối đa 70% tiền ứng trước cùng 2% kinh phí bảo trì và các khoản phạt vi phạm).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu luật học chuẩn mực với nguồn dữ liệu thực chứng tin cậy:

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ danh mục 42 ngân hàng thương mại đủ điều kiện bảo lãnh do Ngân hàng Nhà nước công bố theo Quyết định số 2401/QĐ-NHNN, kết hợp khảo sát ngẫu nhiên 50 hợp đồng mua bán nhà ở thương mại tại các dự án bất động sản trọng điểm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng nhằm phân nhóm 31 ngân hàng thương mại trong nước, 09 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 02 ngân hàng liên doanh để đánh giá khách quan năng lực cung cấp hạn mức tín dụng.

Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và so sánh luật học được lựa chọn nhằm đối chiếu sự bất cập giữa Điều 56 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 với các thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Đồng thời, phương pháp tổng hợp và chứng minh thực chứng trên chuỗi dữ liệu 5 năm từ 2015 đến 2020 giúp làm rõ các khoảng trống lập pháp và nguyên nhân khiến chế định bảo lãnh chưa phát huy tối đa hiệu quả trên thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo cứu thực tiễn áp dụng pháp luật giai đoạn 2015-2020 làm nổi bật 3 phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, việc giới hạn chủ thể bảo lãnh tạo ra điểm nghẽn nghiêm trọng về hạn mức tín dụng. Quyết định số 2401/QĐ-NHNN chỉ cho phép 42 ngân hàng thương mại thực hiện bảo lãnh nhà ở hình thành trong tương lai (trong đó có 31 ngân hàng nội địa, 09 ngân hàng ngoại và 02 ngân hàng liên doanh). Quy định này loại trừ các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các doanh nghiệp bảo hiểm có tiềm lực vốn lớn. Đồng thời, quy định khống chế giới hạn cấp tín dụng không quá 15% vốn tự có cho một khách hàng và không quá 25% cho nhóm khách hàng liên quan theo Thông tư số 36/2014/TT-NHNN đã khiến nhiều ngân hàng thương mại cạn room tín dụng, dẫn đến tình trạng chủ đầu tư không thể tiếp cận bảo lãnh hợp lệ.

Thứ hai, phạm vi điều chỉnh của pháp luật hiện hành bị bỏ ngỏ đối với các sản phẩm bất động sản phái sinh và giai đoạn huy động vốn sớm. Pháp luật chỉ bắt buộc bảo lãnh đối với nhà ở thương mại mà không áp dụng cho 148 dự án condotel với khoảng 27.000 căn hộ được tung ra thị trường giai đoạn 2017-2019, cũng như các sản phẩm officetel. Ngoài ra, việc chủ đầu tư huy động vốn trước khi xong móng qua hợp đồng đặt cọc hoặc giữ chỗ chiếm từ 10% đến 30% giá trị căn hộ hoàn toàn nằm ngoài phạm vi bảo lãnh của ngân hàng.

Thứ ba, sự thiếu đồng bộ về thủ tục cấp bảo lãnh cá thể hóa khiến quyền lợi người mua nhà bị suy giảm. Quy định tại Điều 57 Luật Kinh doanh bất động sản giới hạn trần thanh toán trước là 70% giá trị hợp đồng (50% đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), nhưng thuật ngữ các khoản tiền khác lại không được định nghĩa rõ ràng. Điều này khiến các khoản tiền như 2% kinh phí bảo trì hay tiền lãi chậm nộp bị chủ đầu tư và ngân hàng thương mại cố tình loại trừ khỏi phạm vi thư bảo lãnh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự bất cập trong kỹ thuật lập pháp khi quy định nghĩa vụ bảo lãnh là bắt buộc nhưng lại phụ thuộc vào thỏa thuận tài chính riêng lẻ trong từng hợp đồng mua bán. So sánh với các nghiên cứu trước đây của một số chuyên gia kinh tế - luật, luận văn chỉ ra rằng việc buộc 100% khách hàng mua nhà phải chịu thêm chi phí bảo lãnh (ước tính chiếm 1% đến 2% giá trị căn hộ) là không hợp lý, đặc biệt đối với nhóm nhà đầu tư lướt sóng có nhu cầu chuyển nhượng nhanh trước thời điểm bàn giao.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua bảng ma trận so sánh quyền - nghĩa vụ giữa 3 chủ thể (ngân hàng bảo lãnh, chủ đầu tư, người mua nhà) và biểu đồ phân bổ thị phần cấp bảo lãnh của 42 tổ chức tín dụng. Biểu đồ chỉ ra rằng hơn 70% thị phần bảo lãnh tập trung vào nhóm 10 ngân hàng thương mại cổ phần lớn, tạo ra áp lực tài sản bảo đảm và rủi ro thanh khoản cục bộ. Những khoảng trống này lý giải vì sao trên thực tế có đến hơn 80% tranh chấp bàn giao nhà chậm tiến độ không thể kích hoạt được trách nhiệm bồi thường từ phía ngân hàng thương mại.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn diện, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu lực thực thi:

Thứ nhất, sửa đổi Điều 56 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 theo hướng mở rộng chủ thể cấp bảo lãnh. Cơ quan có thẩm quyền cần cho phép các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đủ điều kiện tài chính được tham gia cung cấp dịch vụ bảo lãnh. Giải pháp này giúp giải tỏa áp lực room tín dụng 15% vốn tự có của các ngân hàng thương mại, dự kiến gia tăng năng lực bảo lãnh toàn thị trường thêm 30% đến 40% trong lộ trình thực hiện đến năm 2022 do Ngân hàng Nhà nước chủ trì.

Thứ hai, mở rộng diện bắt buộc bảo lãnh sang các loại hình bất động sản đa năng như condotel, officetel và biệt thự nghỉ dưỡng. Đồng thời, Bộ Xây dựng và Quốc hội cần bổ sung quy định kiểm soát các giao dịch đặt cọc, giữ chỗ với mức trần không vượt quá 5% đến 10% giá trị bất động sản nhằm ngăn ngừa tình trạng chiếm dụng vốn trái luật trước khi dự án đủ điều kiện mở bán.

Thứ ba, chuẩn hóa danh mục nghĩa vụ tài chính được bảo lãnh và bổ sung quyền tự do thỏa thuận cho người mua nhà. Quy định pháp luật cần minh định rõ phạm vi bảo lãnh bao gồm toàn bộ số tiền ứng trước (tối đa 70% hoặc 50% đối với khối ngoại), khoản kinh phí bảo trì 2%, tiền phạt vi phạm và lãi suất chậm trả. Đồng thời, trao quyền cho khách hàng tự nguyện từ chối nhận thư bảo lãnh bằng văn bản để được khấu trừ trực tiếp 1% đến 2% chi phí bảo lãnh vào giá bán nhà.

Thứ tư, siết chặt chế tài xử lý vi phạm hành chính đối với chủ đầu tư và ngân hàng thương mại. Thanh tra Bộ Xây dựng cần nâng mức phạt tiền từ khung 250 đến 300 triệu đồng hiện nay lên mức tương đương 5% tổng giá trị dự án vi phạm, kết hợp chế tài tạm đình chỉ quyền ký hợp đồng mua bán mới nếu chủ đầu tư không cung cấp được thư bảo lãnh cá thể hóa trong thời hạn 10 ngày làm việc sau khi giao kết hợp đồng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách thuộc Ngân hàng Nhà nước, Bộ Xây dựng và Ủy ban Pháp luật của Quốc hội. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản và hoàn thiện các thông tư hướng dẫn, giúp kiểm soát 100% rủi ro dòng vốn huy động.

Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo và chuyên viên thẩm định pháp lý tại 42 ngân hàng thương mại cùng các tổ chức tín dụng. Tài liệu giúp chuẩn hóa quy trình cấp thỏa thuận bảo lãnh dự án và thư bảo lãnh cá nhân, tối ưu hóa tỷ lệ an toàn vốn từ 15% đến 25% theo chuẩn Basel II.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản. Các chủ đầu tư có thể nắm vững trình tự 3 bước để hoàn thiện hồ sơ dự án, tuân thủ đúng tiến độ đóng tiền tối đa 70% và bàn giao đúng cam kết hợp đồng.

Nhóm thứ tư là người mua nhà, nhà đầu tư cá nhân và đội ngũ luật sư tư vấn bất động sản. Nghiên cứu cung cấp cẩm nang pháp lý rõ ràng giúp khách hàng chủ động yêu cầu ngân hàng phát hành thư bảo lãnh trong thời hạn 5 đến 10 ngày làm việc để bảo toàn tuyệt đối dòng vốn đầu tư.

Câu hỏi thường gặp

Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai không có thư bảo lãnh của ngân hàng thương mại có bị vô hiệu không?

Hợp đồng mua bán vẫn duy trì hiệu lực dân sự ràng buộc giữa hai bên, trừ khi có thỏa thuận khác. Việc không có bảo lãnh là hành vi vi phạm điều kiện kinh doanh của chủ đầu tư, bị xử phạt hành chính theo Nghị định số 139/2017/NĐ-CP với mức phạt từ 250 đến 300 triệu đồng.

Chủ đầu tư được phép nhận tiền ứng trước tối đa bao nhiêu phần trăm khi chưa bàn giao nhà ở thương mại?

Theo quy định tại Điều 57 Luật Kinh doanh bất động sản 2014, chủ đầu tư chỉ được thu tiền ứng trước tối đa 70% giá trị hợp đồng đối với doanh nghiệp trong nước và tối đa 50% đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi chưa bàn giao nhà.

Hiện nay có bao nhiêu ngân hàng thương mại đủ điều kiện thực hiện bảo lãnh dự án nhà ở hình thành trong tương lai?

Theo Quyết định số 2401/QĐ-NHNN ngày 15/11/2017 của Ngân hàng Nhà nước, có 42 ngân hàng thương mại đủ điều kiện năng lực, gồm 31 ngân hàng thương mại trong nước, 09 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 02 ngân hàng liên doanh.

Khách hàng mua căn hộ nghỉ dưỡng condotel có được bắt buộc bảo lãnh nghĩa vụ tài chính ngân hàng không?

Pháp luật hiện hành chỉ bắt buộc bảo lãnh đối với nhà ở thương mại. Các sản phẩm condotel (với khoảng 27.000 căn hộ tại 148 dự án) chưa thuộc diện bắt buộc bảo lãnh, việc bảo lãnh phụ thuộc hoàn toàn vào thỏa thuận tự nguyện giữa các bên.

Thời hạn ngân hàng thương mại phát hành thư bảo lãnh cho từng người mua nhà là bao lâu?

Theo Thông tư số 13/2017/TT-NHNN, trong vòng 10 ngày làm việc từ khi ký hợp đồng mua bán, chủ đầu tư phải gửi hợp đồng cho ngân hàng. Trong thời hạn 5 ngày làm việc tiếp theo, ngân hàng thương mại phải phát hành thư bảo lãnh gửi cho khách hàng.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện các yêu cầu lý luận và thực tiễn về cơ chế bảo lãnh tài chính trong mua bán nhà ở thương mại với 5 đóng góp trọng tâm:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về bảo lãnh nghĩa vụ tài chính, làm rõ bản chất kết hợp đối nhân và đối vật theo Bộ luật Dân sự 2015.
  • Đánh giá thực trạng hoạt động bảo lãnh tại 42 ngân hàng thương mại đủ điều kiện và phát hiện các rào cản từ giới hạn cấp tín dụng 15% đến 25% vốn tự có.
  • Chỉ ra các lỗ hổng lập pháp liên quan đến việc bỏ ngỏ bảo lãnh đối với 148 dự án condotel và các thỏa thuận huy động vốn sớm.
  • Đề xuất mô hình cấp bảo lãnh linh hoạt, cho phép người mua nhà tự chọn quyền bảo lãnh nhằm tiết kiệm 1% đến 2% chi phí đầu tư.
  • Xây dựng lộ trình hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2021-2025 gắn liền với chế tài xử phạt vi phạm hành chính nghiêm minh.

Nghiên cứu khẳng định bảo lãnh ngân hàng là tấm lá chắn pháp lý cốt lõi giúp lành mạnh hóa thị trường bất động sản, bảo vệ an toàn 100% quyền lợi tài chính của khách hàng và duy trì sự phát triển bền vững cho nền kinh tế quốc gia.