Thực hiện pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng tại tỉnh Cà Mau

Tài liệu phân tích thực trạng thực hiện chính sách, pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh Cà Mau và đề xuất giải pháp.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề án Thạc sĩ

2025

74
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và ý nghĩa của pháp luật ưu đãi người có công

Pháp luật ưu đãi người có công là tập hợp các quy phạm pháp luật nhằm công nhận và bảo vệ quyền lợi của những người đã có đóng góp xuất sắc cho cách mạng. Tại tỉnh Cà Mau, việc thực hiện pháp luật này mang ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc ghi nhận công lao của những thế hệ chiến sĩ, cán bộ cộng sản. Đây là biểu hiện của lòng tôn trọngtrách nhiệm của Nhà nước đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của đất nước. Công tác xác nhận người có công không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là bổn phận đạo đức của các cơ quan chứng thức.

1.1. Định nghĩa pháp luật ưu đãi người có công

Pháp luật ưu đãi người có công bao gồm các quy định pháp lý về chế độ, chính sách ưu đãi dành cho những người có công với cách mạng. Các quy định này được quy định trong Luật Ưu đãi người có công, người lao động nước ngoài và nhiều văn bản hương dẫn của Bộ Nội vụ. Tại Cà Mau, các quy định này được cụ thể hóa thành chính sách địa phương phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.

1.2. Ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật ưu đãi

Việc thực hiện pháp luật ưu đãi có ý nghĩa tinh thần sâu sắc trong việc tôn vinh những đóng góp của thế hệ tiền bối. Ngoài ra, nó còn thực hiện trách nhiệm xã hội của nhà nước trong việc chăm sóc, bảo vệ quyền lợi của người có công. Đây cũng là chính sách hưởng ứng các nguyên tắc nhân đạo quốc tế mà Việt Nam cam kết.

II. Thực trạng công tác xác nhận người có công tại tỉnh Cà Mau

Công tác xác nhận người có công tại tỉnh Cà Mau đã được thực hiện song không không đồng đều trên toàn tỉnh. Theo số liệu từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Cà Mau, có hàng trăm hộ gia đình người có công đã được ghi danh trong hệ thống quản lý của tỉnh. Tuy nhiên, còn tồn tại những bất cập trong quá trình kiểm chứng tài liệu, thẩm định hồ sơ. Nhiều cơ sở dữ liệu chưa được cập nhật đầy đủ, dẫn đến tình trạng bị bỏ sót một số đối tượng người có công. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ trong việc hưởng chế độ ưu đãi.

2.1. Số lượng và phân bố người có công

Tỉnh Cà Mau hiện có khoảng 5.000+ người có công được ghi danh chính thức. Tuy nhiên, phân bố địa lý không đồng đều, tập trung chủ yếu tại thành phố Cà Mau và các huyện ven biển. Các vùng sâu, vùng xa còn nhiều trường hợp chưa được xác nhận do khó khăn trong quản lý hành chính. Công tác cập nhật thông tin vẫn còn chậm chạp so với nhu cầu thực tế.

2.2. Những khó khăn trong quá trình xác nhận

Các khó khăn chính bao gồm: thiếu tài liệu lịch sử, nhân chứng lão thành quá ít, năng lực cán bộ chưa đủ để kiểm chứng. Ngoài ra, giao tiếp giữa các cấp chưa thông suốt, dẫn đến vi phạm thủ tục trong tiếp nhận, xử lý hồ sơ. Đây là những rào cản khách quan cần tháo gỡ để cải thiện hiệu quả thực hiện pháp luật.

III. Nội dung và hình thức thực hiện ưu đãi người có công

Nội dung ưu đãi dành cho người có công tại Cà Mau bao gồm nhiều khía cạnh: ưu đãi chính trị, ưu đãi về chế độ, ưu đãi về công việc, và ưu đãi tài chính. Ưu đãi chính trị thể hiện qua việc ưu tiên tuyển dụng vào các vị trí lãnh đạo. Ưu đãi về chế độ bao gồm hỗ trợ y tế, hỗ trợ xã hội, tiền hưu bổng cho những người mất sức lao động. Hình thức thực hiện được thực hiện thông qua các chương trình hỗ trợ cụ thể, công ty doanh nghiệp ưu tiên, và các hoạt động xã hội. Tuy nhiên, việc thực hiện còn chưa đạt tính nhất quán giữa lý thuyết và thực tiễn, đòi hỏi tăng cường giám sát, đánh giá.

3.1. Các hình thức ưu đãi chính sách

Ưu đãi chính sách bao gồm: miễn giảm thuế, ưu tiên vay vốn, ưu tiên tuyển dụng công chức, ưu tiên phân bổ quỹ đất. Các hình thức này được quy định cụ thể trong Thông tư của Bộ Nội vụQuyết định của UBND tỉnh. Hiện nay, tỷ lệ hưởng lợi vẫn còn tương đối thấp, chỉ khoảng 40-50% người có công được hưởng đầy đủ các ưu đãi này.

3.2. Các chương trình hỗ trợ và triển khai

Tỉnh Cà Mau đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ như: chương trình chăm sóc sức khỏe, chương trình hỗ trợ sinh kế, chương trình nhà ở. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện còn hạn chế do thiếu vốn ngân sách, chưa đạt quy mô cần thiết. Cần tăng cường kế hoạch thực hiện để mở rộng phạm vi hưởng lợi.

IV. Những tồn tại và giải pháp cải thiện

Hiện nay, thực hiện pháp luật ưu đãi người có công tại Cà Mau còn gặp phải nhiều vấn đề cấp thiết. Tồn tại chính là: thiếu nhân lực chuyên trách, cơ chế điều phối giữa các bộ, ngành chưa rõ, nguồn vốn không ổn định. Ngoài ra, nhận thức của cộng đồng về quyền lợi người có công vẫn chưa cao, dẫn đến tình trạng bị bỏ sót. Để cải thiện thực trạng, cần phải tăng cường đào tạo cán bộ, hoàn thiện khung pháp lý địa phương, tăng cường tuyên truyền, giáo dục xã hội. Đồng thời, xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá tính hiệu quả của các chương trình ưu đãi là hết sức cần thiết.

4.1. Những tồn tại chủ yếu trong thực hiện pháp luật

Tồn tại chủ yếu gồm: thiếu cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về người có công, trình độ cán bộ thực hiện chưa đồng bộ, các quy trình, thủ tục vẫn còn phức tạp. Sự phối hợp giữa Sở Lao động, Ủy ban Nhân dân, các đơn vị sự nghiệp chưa chặt chẽ. Những vấn đề này làm chậm tiến độ xác nhận, cấp chứng chỉ cho người có công.

4.2. Các giải pháp cải thiện và hoàn thiện

Giải pháp cần triển khai: xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp trên nền tảng số hóa, tăng cường đào tạo cán bộ chuyên trách, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật. Cần thiết lập cơ chế phối hợp giữa các ngành để tránh trùng lặp, bỏ sót. Ngoài ra, tăng cường tuyên truyền để nâng cao nhận thức cộng đồngyếu tố then chốt cho thành công công tác này.

18/12/2025
Thực hiện pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh cà mau

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG Ở CẤP TỈNH 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng Nền móng của ưu đãi NCCVCM đã xuất hiện từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947 về " Ưu đãi NCC", tuy nhiên chỉ đến khi Nhà nước lần đầu ban hành Pháp lệnh NCCVCM thì khái niệm NCC mới được hiểu một cách đầy đủ theo cả nghĩa rộng và hẹp như sau: Theo nghĩa rộng: NCC không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, giới tính hay tuổi tác, là những người có thành tích, đóng góp, cống hiến xuất sắc cho lợi ích của dân tộc, đất nước và được các cơ quan có thẩm quyền công nhận theo các quy định của pháp luật. Theo đó, ta có thể thấy tiêu chí cơ bản nhất của việc xác định đối tượng NCC chính là những đóng góp của họ vì lợi ích của dân tộc [10, tr.

Theo nghĩa hẹp: NCC được hiểu là NCCVCM, là những người không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, giới tính hay tuổi tác, có những đóng góp to lớn trong các cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, và được các cơ quan có thẩm quyền công nhận theo các trình tự, thủ tục mà luật định. Theo đó, NCC sẽ bao gồm những người đã hy sinh tính mạng hoặc một phần thân thể mình để hoạt động giúp đỡ cách mạng hoặc cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận [10, tr. Như vậy, phạm trù NCC rất rộng và có nhiều cách hiểu khác nhau, tuy nhiên nếu tính trong phạm vi hẹp và cách hiểu gần gũi nhất với người Việt Nam thì khi nhắc đến cụm từ NCC đồng nghĩa với NCCVCM. Có thể rút ra khái niệm NCCVCM là “những người đã có thành tựu, đóng góp công sức của mình trong các cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ Quốc”.

Trên cơ sở những đóng góp to lớn cùng những thiệt thòi mà những đối tượng được coi là NCCVCM phải chịu trong quá trình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Nhà nước và cả xã hội luôn dành cho họ cũng như thân nhân của NCCVCM những ưu đãi, đãi ngộ trên mức bình thường trong mọi mặt của đời sống 8 xã hội. Những ưu đãi, đãi ngộ đó chính là ưu đãi NCCVCM. Do đó, ưu đãi NCCVCM có thể được hiểu là “sự đãi ngộ của Nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với những NCCVCM và gia đình thân nhân của họ”. Khái niệm ưu đãi NCCVCM hay pháp luật về ưu đãi NCCVCM hầu như chưa được đề cập đến nếu tính trên phương diện pháp luật quốc tế.

Trong khi đó, ở Việt Nam, xuất phát từ các đặc thù về truyền thống, đạo lý, hay vấn đề lịch sử dân tộc thì ưu đãi NCCVCM đã được luật hóa và trở thành một nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội. Như vậy, tác giả đúc kết khái niệm pháp luật về ưu đãi NCCVCM là: “pháp luật về ưu đãi NCCVCM được hiểu là tổng hợp những quy phạm pháp luật quy định về các điều kiện hình thức, mức độ đảm bảo vật chất và tinh thần cho những NCCVCM và một số thành viên trong gia đình họ trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế văn hóa, xã hội”. Để những chính sách ưu đãi NCCVCM đi sâu vào thực tế, vấn đề cần đặt ra là việc “thực hiện pháp luật” cần kịp thời, đúng đối tượng, chính sách. Chủ thể thực hiện pháp luật ưu đãi NCCVCM trước hết là những cơ quan nhà nước, đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh đến từng cơ sở, địa phương, sau đó là cá nhân, tổ chức cùng chung tay phát huy truyền thống “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” tốt đẹp của dân tộc.

Do vậy, tác giả đưa ra khái niệm: Thực hiện pháp luật về ưu đãi NCCVCM là việc Nhà nước, các tổ chức và cá nhân thực hiện đầy đủ, chính xác và kịp thời các quy định của pháp luật về ưu đãi đối với những người đã có công đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật ưu đãi xã hội là những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực ưu đãi đối với NCC. Đó là quan hệ giữa một bên là Nhà nước và một bên là NCC cùng với gia đình của họ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như quan hệ về trợ cấp ưu đãi, quan hệ về chăm sóc y tế, giáo dục, quan hệ về việc làm, nhà ở; trợ giúp pháp lý miễn phí.Với đặc điểm này, pháp luật và đãi NCCVCM đã trở thành một nét đặc thù trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội của Việt Nam. Pháp lệnh ưu đãi NCCVCM quy định có 2 nhóm đối tượng được hưởng chế độ đãi đó là NCCVCM và thân nhân của NCCVCM trong đó NCCVCM bao gồm có 12 đối tượng [36].

Người hoạt động cách mạng (HĐCM) trước ngày 01 tháng 01 năm 1945: Là người được cơ quan tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 (Cán bộ lão thành cách mạng) 9 Người HĐCM từ 01/01/1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945: Là người được cơ quan tổ chức có thẩm quyền công nhân đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly HĐCM kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945 (Cán bộ Tiền khởi nghĩa). Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công. Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Những Bà mẹ được tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng" là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế được quy định tại Điều 2 Nghị định 56/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu. AHLĐ trong thời kỳ kháng chiến là người được nhà nước tuyên dương AHLĐ vì có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất phục vụ kháng chiến (tuyên dương trước ngày 30/4/1975). Thương binh người được hưởng chính sách như thương binh, Thương binh là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" được quy định tại Điều 19 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi NCCVCM năm 2012. Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm KNLĐ từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận bệnh binh”; mắc bệnh làm suy giảm KNLĐ từ 41% - 60% đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31/12/1994.

Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu phục vụ chiến đấu tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học, bị mắc bệnh làm suy giảm KNLĐ, sinh con dị dạng dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của chất độc hóa học - Người HĐCM hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày là người được cơ quan, tổ 10 chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời gian bị tù, đây không khai báo có hại cho cách mạng cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến trong khoảng thời gian từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huân chương Chiến thắng Huy chương Kháng chiến hoặc Huy chương Chiến thắng. NCC giúp đỡ cách mạng là người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước", người được tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huy chương Kháng chiến, người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945, người trong gia đình được tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huy chương Kháng chiến có đủ điều kiện xác nhận là NCC giúp đỡ cách mạng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng Thứ nhất, thực hiện pháp luật về ưu đãi NCCVCM thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và cả xã hội nhằm chăm lo sức khoẻ, đảm bảo cho đời sống vật chất và tinh thần của NCCVCM nhằm tôn vinh những công lao của họ đối với Tổ quốc. Có thể nói, mục tiêu quan trọng nhất của việc ưu đãi thực hiện pháp luật về ưu đãi NCCVCM dựa trên những đóng góp xuất sắc, hy sinh lớn trong các hoạt động cách mạng, giải phóng dân tộc.

Thứ hai, thực hiện pháp luật về ưu đãi NCCVCM có đối tượng áp dụng được quy định rõ ràng: Các quy định pháp luật sẽ xác định rõ ràng những cá nhân được coi là NCCVCM và hưởng những ưu đãi này. Đảm bảo đầy đủ các ưu đãi về phúc lợi cho đối tượng được áp dụng bao gồm các chế độ về chăm sóc sức khoẻ, chăm sóc y tế miễn phí hoặc giảm giá, hỗ trợ tài chính và các dịch vụ xã hội khác nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống cho bản thân họ và gia đình. Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật về ưu đãi NCCVCM không chỉ bó hẹp trong phạm vi những NCCVCM mà còn được phổ rộng là cả những người đã cống hiến sức lực, năng lực, trí tuệ và mạng sống cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ