Tổng quan nghiên cứu
Khu vực nông nghiệp giữ vai trò trụ cột trong nền kinh tế Việt Nam khi đóng góp xấp xỉ 20% GDP của cả nước và bảo đảm sinh kế trực tiếp cho hơn 80% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn. Dù sở hữu vị trí chiến lược và nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực trên thị trường quốc tế, dòng vốn đầu tư toàn xã hội rót vào ngành nông nghiệp trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018 chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn từ 5,4% đến 5,6% và liên tục suy giảm. Vấn đề cốt lõi nảy sinh từ tính chất rủi ro tự nhiên cao của sản xuất nông nghiệp kết hợp với những rào cản thể chế, khi hệ thống pháp luật về ưu đãi đầu tư còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, thiếu đồng bộ giữa luật chung và luật chuyên ngành.
Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về ưu đãi đầu tư nông nghiệp, phân tích thực trạng áp dụng các quy định hiện hành theo Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đất đai năm 2013, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Nghị định số 210/2013/NĐ-CP. Trên cơ sở đó, luận văn chỉ rõ các xung đột pháp lý, hạn chế thực thi và đề xuất hệ thống giải pháp lập quy có tính khả thi cao. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các nhà đầu tư trực tiếp tại Việt Nam trong tiến trình thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo Quyết định số 899/QĐ-TTg từ năm 2013 đến mốc năm 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học để hoàn thiện chính sách, hướng tới nâng tỷ trọng vốn đầu tư nông nghiệp lên mức 8% đến 10% tổng đầu tư xã hội và thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế nông thôn bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết can thiệp kinh tế của John Maynard Keynes (1994), khẳng định vai trò điều tiết của Nhà nước trong việc sử dụng các công cụ ưu đãi tài chính và tài khóa nhằm bù đắp rủi ro thị trường, kích thích khu vực tư nhân gia tăng tích lũy tư bản. Song song đó, lý thuyết phân bổ nguồn lực và đánh đổi thời gian của Paul A. Samuelson và William D. Nordhaus (1989) được vận dụng để luận giải bản chất của đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại nhằm thu về giá trị gia tăng dài hạn trong tương lai. Khung lý thuyết thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng được tích hợp để đánh giá tác động điều tiết của pháp luật đối với dòng vốn tư nhân và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Khung phân tích của luận văn xoay quanh 4 khái niệm cốt lõi:
- Đầu tư kinh doanh nông nghiệp (hoạt động bỏ vốn tạo lập tài sản sản xuất trong nông, lâm, thủy sản vì mục tiêu sinh lợi);
- Ưu đãi đầu tư (các biện pháp miễn, giảm nghĩa vụ tài chính hoặc tạo thuận lợi về đất đai mà Nhà nước trao cho nhà đầu tư);
- Rủi ro sinh học và chu kỳ sản xuất nông nghiệp;
- Cơ chế bảo đảm đầu tư trong điều kiện thay đổi pháp luật.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa bao gồm hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật được ban hành từ năm 1986 đến năm 2018, hệ thống báo cáo tổng kết 562 dự án FDI trong nông nghiệp giai đoạn 1998–2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng chuỗi số liệu thống kê vĩ mô 10 năm từ Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% các đạo luật và nghị định nòng cốt trực tiếp điều chỉnh hoạt động đầu tư nông nghiệp (như Luật Đầu tư 2014, Luật Đất đai 2013, Nghị định 210/2013/NĐ-CP, Nghị định 118/2015/NĐ-CP, Nghị định 55/2015/NĐ-CP). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu định chuẩn chuyên đề, tập trung vào các quy phạm điều chỉnh thuế, đất đai, tín dụng và thủ tục đầu tư. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích quy phạm luật học, so sánh đối chiếu lịch sử và phương pháp thống kê mô tả là nhằm bóc tách chính xác những xung đột kỹ thuật lập pháp giữa các đạo luật, đồng thời lượng hóa được tác động thực tế của chính sách ưu đãi đối với quyết định phân bổ vốn của doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng giữa đóng góp kinh tế và tỷ trọng thu hút vốn: nông nghiệp tạo ra 20% GDP nhưng chỉ thu hút được 5,4% đến 5,6% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, cho thấy các chính sách ưu đãi hiện hành chưa đủ sức tạo động lực bù đắp rủi ro cho nhà đầu tư.
Thứ hai, vốn FDI vào nông nghiệp có tỷ lệ giải ngân thực tế rất cao nhưng quy mô tổng vốn lại cực kỳ khiêm tốn. Trong giai đoạn 1998–2012, toàn ngành chỉ thu hút 562 dự án với tổng vốn đăng ký 2.942 triệu USD, trong đó vốn thực hiện đạt 2.958 triệu USD (đạt tỷ lệ 99% so với vốn đăng ký), song tổng vốn FDI nông nghiệp chỉ chiếm chưa đầy 3% tổng vốn FDI của cả nước.
Thứ ba, phát hiện xung đột pháp lý trực tiếp giữa văn bản dưới luật và đạo luật chuyên ngành: Điều 5 Nghị định số 210/2013/NĐ-CP quy định miễn hoặc giảm từ 50% đến 70% tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất cho dự án nông nghiệp ưu đãi. Tuy nhiên, Điều 55 Luật Đất đai năm 2013 đã bãi bỏ hoàn toàn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với tổ chức kinh tế sản xuất nông nghiệp, chỉ cho phép áp dụng hình thức thuê đất trả tiền hàng năm hoặc trả một lần, khiến chính sách ưu đãi trên thực tế bị vô hiệu hóa.
Thứ tư, cơ chế trích lập Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tối đa 10% lợi nhuận trước thuế chưa phát huy hiệu quả khi hơn 90% doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô nhỏ, lợi nhuận thấp, khiến nguồn quỹ trích lập không đủ chi trả cho việc đổi mới công nghệ cao.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật đầu tư và hệ thống luật thuế, đất đai, tín dụng. Thời gian hoàn vốn của một dự án nông nghiệp bình quân kéo dài từ 5 đến 10 năm, song các rào cản hành chính tại Điều 17 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP đã tạo ra sự đối xử phân biệt: dự án có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT) được ghi nhận mức ưu đãi cụ thể, trong khi dự án không thuộc diện cấp GCNĐKĐT phải tự xác định ưu đãi và chịu rủi ro bị truy thu khi cơ quan thuế thanh tra.
So sánh với các nghiên cứu trước đây của Nguyễn Xuân Đương (2015) và Vũ Sỹ Đức Thắng (2015), luận văn đã đi sâu chứng minh dưới góc độ luật học kinh tế rằng điểm nghẽn thể chế chính là nguyên nhân làm triệt tiêu tác dụng của các đòn bẩy tài chính. Những dữ liệu này có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ trọng đóng góp GDP (20%) với tỷ trọng thu hút vốn (5,5%), cùng bảng ma trận đối chiếu 4 xung đột quy phạm giữa Luật Đất đai 2013, Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 210/2013/NĐ-CP để thấy rõ sự bất cập trong thực tiễn áp dụng.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định số 210/2013/NĐ-CP nhằm đồng bộ hóa 100% với Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đầu tư năm 2014; bãi bỏ quy định giao đất có thu tiền sử dụng đất, chuyển sang cơ chế miễn tiền thuê đất từ 11 năm đến toàn bộ thời hạn hoạt động của dự án đối với danh mục nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư; cơ quan thực hiện là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2018–2019.
-
Sửa đổi Điều 17 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP nhằm thiết lập thủ tục đăng ký hưởng ưu đãi tự động và bình đẳng cho 100% doanh nghiệp; quy định rõ trách nhiệm của cơ quan đăng ký đầu tư trong việc ghi nhận mức ưu đãi vào văn bản hành chính kể cả khi dự án không thuộc diện cấp GCNĐKĐT; chủ thể thực hiện là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hoàn thành trước năm 2020.
-
Nâng mức trần cho phép trích lập Quỹ phát triển KH&CN từ 10% lên tối đa 15% đến 20% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các dự án nông nghiệp công nghệ cao, đồng thời kéo dài thời hạn giải ngân quỹ từ 5 năm lên 7 năm; chủ thể chủ trì là Bộ Tài chính phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ, áp dụng trong chu kỳ ngân sách 2019–2022.
-
Mở rộng cơ chế ưu đãi tín dụng theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP bằng cách tăng định mức vay không cần tài sản bảo đảm lên gấp 2 lần cho các doanh nghiệp tham gia chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp sạch, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng dư nợ tín dụng nông nghiệp đạt trên 25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế; chủ thể thực hiện là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2019–2021.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu ngành Luật Kinh tế, Quản lý Kinh tế: Tiếp cận nguồn tư liệu chuẩn mực về phương pháp phân tích quy phạm so sánh, khung lý thuyết đầu tư kinh doanh và đánh giá tính tương thích của hệ thống pháp luật kinh tế.
- Doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp: Sử dụng luận văn như cẩm nang pháp lý để tra cứu danh mục ngành nghề ưu đãi, hiểu rõ điều kiện miễn giảm tiền thuê đất, tối ưu hóa thuế thu nhập doanh nghiệp và phòng ngừa rủi ro pháp lý khi triển khai dự án.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): Tham khảo luận cứ khoa học và bảng rà soát mâu thuẫn pháp lý để phục vụ công tác soạn thảo, thẩm định các văn bản sửa đổi luật và nghị định chuyên ngành.
- Tổ chức tín dụng và quỹ đầu tư mạo hiểm: Nắm bắt cấu trúc rủi ro pháp lý về tài sản hình thành trên đất nông nghiệp nhằm thiết kế các gói tài trợ vốn và bảo hiểm nông nghiệp hiệu quả.
Câu hỏi thường gặp
-
Điểm mâu thuẫn lớn nhất giữa Nghị định 210/2013/NĐ-CP và Luật Đất đai 2013 là gì?
Nghị định 210/2013/NĐ-CP quy định miễn giảm tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất cho dự án nông nghiệp, nhưng Điều 55 Luật Đất đai 2013 đã bãi bỏ hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất cho doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, chỉ cho phép thuê đất, gây bế tắc khi thực thi.
-
Tại sao vốn FDI vào nông nghiệp giai đoạn 1998–2012 có tỷ lệ giải ngân đạt 99% nhưng tổng vốn vẫn thấp?
Dù 562 dự án FDI có vốn thực hiện đạt 2.958 triệu USD trên tổng số 2.942 triệu USD vốn đăng ký (tỷ lệ 99%), quy mô bình quân mỗi dự án quá nhỏ và rủi ro chu kỳ nông nghiệp cao đã ngăn cản các tập đoàn đa quốc gia rót dòng vốn lớn.
-
Quy định về Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ hiện nay có hạn chế gì với doanh nghiệp nông nghiệp?
Quy định khống chế mức trích tối đa 10% lợi nhuận trước thuế và buộc giải ngân trong 5 năm không phù hợp với thực tế 90% doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô nhỏ, lợi nhuận mỏng, không đủ tích lũy vốn đầu tư công nghệ hiện đại.
-
Thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo Nghị định 118/2015/NĐ-CP có điểm gì bất bình đẳng?
Dự án có GCNĐKĐT được ghi nhận cụ thể ưu đãi, trong khi dự án không thuộc diện cấp GCNĐKĐT phải tự kê khai và tự chịu trách nhiệm, tạo tâm lý e ngại bị truy thu thuế và phát sinh chi phí tuân thủ lớn cho nhà đầu tư.
-
Thời hạn thuê đất tối đa cho các dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư là bao lâu?
Theo Điều 126 Luật Đất đai 2013 và Luật Đầu tư 2014, thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với các dự án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm hoặc tại địa bàn đặc biệt khó khăn được kéo dài tối đa không quá 70 năm.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khẳng định ưu đãi đầu tư là công cụ pháp lý then chốt giúp tái cơ cấu nền nông nghiệp chiếm 20% GDP quốc gia.
- Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng suy giảm dòng vốn khi đầu tư nông nghiệp chỉ chiếm 5,4% đến 5,6% tổng vốn xã hội do các xung đột pháp lý giữa Luật Đầu tư 2014, Luật Đất đai 2013 và Nghị định 210/2013/NĐ-CP.
- Làm sáng tỏ các bất cập trong cơ chế trích lập Quỹ KH&CN 10%, rào cản tín dụng theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP và sự bất bình đẳng thủ tục tại Điều 17 Nghị định 118/2015/NĐ-CP.
- Đóng góp hệ thống 4 giải pháp lập quy đồng bộ, có tính thực tiễn cao nhằm hoàn thiện khung pháp lý ưu đãi đầu tư nông nghiệp giai đoạn 2018–2022.
- Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần đẩy nhanh việc ứng dụng kết quả nghiên cứu, khẩn trương hoàn thiện thể chế nhằm tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn cho nông nghiệp Việt Nam.