Pháp Luật Về Ưu Đãi Đầu Tư Trong Lĩnh Vực Nông Nghiệp

Chuyên khảo luật học phân tích Pháp luật về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Trường Đại Học Cần Thơ

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ luật học

2018

111
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. LỜI NÓI ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Tình hình nghiên cứu

1.3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của luận văn

1.6. Bố cục của luận văn

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP

2.1. Khái quát về đầu tư

2.1.1. Khái niệm đầu tư

2.1.2. Đặc điểm của đầu tư

2.1.3. Vai trò, ý nghĩa của đầu tư

2.1.3.1. Đối với nhà đầu tư
2.1.3.2. Đối với nền kinh tế - xã hội

2.2. Khái quát về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

2.2.1. Khái niệm ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

2.2.2. Đặc điểm và bản chất của ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

2.2.2.1. Đặc điểm của ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp
2.2.2.2. Bản chất của ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

2.2.3. Vai trò, ý nghĩa của ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

2.2.3.1. Vai trò trong thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài để phát triển nông nghiệp
2.2.3.2. Vai trò trong việc giúp Nhà nước chủ động tái cơ cấu lại nền kinh tế thông qua việc ban hành và áp dụng các hình thức ưu đãi đầu tư
2.2.3.3. Góp phần tạo ra sự đồng bộ của hệ thống pháp luật đầu tư, phù hợp thông lệ quốc tế
2.2.3.4. Ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp giúp chuyển giao công nghệ hiện đại và phương pháp quản lý tiên tiến của các nước phát triển
2.2.3.5. Ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp góp phần khắc phục những hạn chế còn tồn tại của môi trường đầu tư

2.3. Lược sử hình thành và phát triển pháp luật về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam

2.3.1. Quy định về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp thời kỳ trước năm 1986

2.3.2. Quy định về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp từ năm 1986 đến trước năm 2014

2.3.2.1. Quy định về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp từ năm 1986 đến trước năm 2005
2.3.2.2. Quy định về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp từ năm 2006 đến trước năm 2014

2.3.3. Quy định về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp từ năm 2014 đến nay

3. PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP - BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

3.1. Nội dung pháp luật về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

3.1.1. Đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư

3.1.2. Nguyên tắc và điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư

3.1.2.1. Nguyên tắc áp dụng ưu đãi đầu tư
3.1.2.2. Điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư

3.1.3. Các hình thức ưu đãi đầu tư

3.1.4. Các ưu đãi liên quan đến quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển

3.2. Quy định pháp luật về thủ tục áp dụng và điều chỉnh ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

3.2.1. Thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

3.2.2. Thủ tục điều chỉnh ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

3.3. Những bất cập, hạn chế của quy định pháp luật về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và hướng hoàn thiện

3.3.1. Vướng mắc trong quy định về xác định đối tượng áp dụng ưu đãi đầu tư và thực tiễn áp dụng - Kiến nghị hoàn thiện

3.3.2. Một số vướng mắc trong quy định pháp luật ưu đãi về thuế và thực tiễn áp dụng - Kiến nghị hoàn thiện

3.3.3. Một số vướng mắc của quy định pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng - Kiến nghị hoàn thiện

3.3.4. Vướng mắc của quy định pháp luật về ưu đãi thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thực tiễn áp dụng - Kiến nghị hoàn thiện

3.3.5. Vướng mắc trong việc xác định thời hạn miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư; thời hạn miễn tiền thuê đất đối dự án đầu tư nông nghiệp có sử dụng diện tích đất để xây dựng nhà ở cho công nhân, đất trồng cây xanh và đất phục vụ phúc lợi công cộng

3.3.6. Bất cập trong quy định miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với dự án đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

3.3.7. Bất cập trong quy định về tiêu chí xác định dự án nông nghiệp được miễn, giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và thời hạn được miễn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

3.3.8. Một số bất cập, hạn chế của quy định pháp luật về ưu đãi tín dụng và thực tiễn áp dụng - Kiến nghị hoàn thiện

3.3.8.1. Đối tượng được vay nguồn tín dụng đầu tư Nhà nước, tín dụng nông nghiệp còn hẹp, điều kiện vay khá khắc khe
3.3.8.2. Quy định về ưu đãi tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp theo quy định của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP còn chưa rõ ràng, cụ thể

3.3.9. Một số bất cập trong quy định của pháp luật về ưu đãi trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ và thực tiễn áp dụng - Kiến nghị hoàn thiện

3.3.9.1. Hạn chế trong quy định cho phép trích tối đa 10% lợi nhuận trước thuế để lập Quỹ phát triển KH&CN đầu tư cho hoạt động KH&CN
3.3.9.2. Vướng mắc trong quy định về xác định sử dụng Quỹ phát triển KH&CN không đúng mục đích và hạn chế trong quy định về thời hạn sử dụng Quỹ

3.3.10. Một số bất cập của quy định pháp luật về thủ tục áp dụng, điều chỉnh ưu đãi đầu tư và thực tiễn áp dụng - Kiến nghị hoàn thiện

3.3.10.1. Bất cập trong quy định về đối xử chưa bình đẳng trong thủ tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Nghị định số 118/2015/NĐ-CP
3.3.10.2. Vướng mắc trong quy định về thủ tục điều chỉnh ưu đãi đầu tư

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp Luật Ưu Đãi Đầu Tư Nông Nghiệp Cần Thơ

Pháp luật về ưu đãi đầu tư nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng một nền nông nghiệp công nghệ cao, hiện đại và cạnh tranh là vô cùng cần thiết. Ưu đãi đầu tư không chỉ thu hút vốn mà còn góp phần chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và cải thiện đời sống người dân nông thôn. Trường Đại học Cần Thơ, với vai trò là trung tâm nghiên cứu khoa học hàng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu và đánh giá các chính sách ưu đãi đầu tư này. Nghiên cứu từ Đại học Cần Thơ tập trung vào việc phân tích thực trạng, chỉ ra những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc thực hiện chính sách nông nghiệp của quốc gia, đặc biệt là trong bối cảnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

1.1. Vai trò của Đại học Cần Thơ trong nghiên cứu pháp luật

Đại học Cần Thơ đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu và đánh giá các chính sách pháp luật về nông nghiệp. Với đội ngũ các nhà khoa học, luật gia giàu kinh nghiệm, trường đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư nông nghiệp. Các nghiên cứu này không chỉ tập trung vào lý luận mà còn đi sâu vào thực tiễn, khảo sát, đánh giá tác động của các chính sách đến hoạt động đầu tư vào nông nghiệp tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Kết quả nghiên cứu là nguồn thông tin quan trọng cho các cơ quan nhà nước trong quá trình hoạch định chính sách.

1.2. Tầm quan trọng của ưu đãi đầu tư trong nông nghiệp

Ưu đãi đầu tư có vai trò then chốt trong việc thu hút vốn vào lĩnh vực nông nghiệp. Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng, đảm bảo an ninh lương thực và tạo việc làm cho phần lớn dân số. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức, đòi hỏi vốn đầu tư lớn và công nghệ hiện đại. Chính sách ưu đãi đầu tư giúp giảm thiểu rủi ro, tăng tính hấp dẫn của các dự án đầu tư vào nông nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Điều này góp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp và thúc đẩy phát triển bền vững.

II. Thách Thức Pháp Lý Ưu Đãi Đầu Tư Nông Nghiệp Hiện Nay

Mặc dù có vai trò quan trọng, pháp luật ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay vẫn còn nhiều thách thức và bất cập. Tỷ trọng vốn đầu tư vào nông nghiệp còn thấp so với các lĩnh vực khác, cho thấy chính sách chưa đủ sức hấp dẫn. Các quy định về ưu đãi còn chồng chéo, thiếu đồng bộ và chưa thực sự phù hợp với đặc thù của ngành nông nghiệp. Thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp cũng là một rào cản lớn đối với các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi còn khó khăn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghiên cứu từ Trường Đại học Cần Thơ đã chỉ ra những hạn chế này và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư vào nông nghiệp.

2.1. Bất cập trong quy định về đối tượng ưu đãi đầu tư

Một trong những vướng mắc lớn nhất hiện nay là sự thiếu rõ ràng trong quy định về đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư. Nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp gặp khó khăn trong việc xác định mình có thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi hay không. Điều này gây ra sự không chắc chắn và làm giảm tính hấp dẫn của chính sách. Cần có những quy định cụ thể, chi tiết hơn về tiêu chí xác định đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư, đảm bảo tính minh bạch và công bằng.

2.2. Hạn chế trong tiếp cận tín dụng ưu đãi nông nghiệp

Việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi là một vấn đề nan giải đối với nhiều doanh nghiệp nông nghiệp. Mặc dù có nhiều chương trình tín dụng ưu đãi được triển khai, nhưng điều kiện vay vốn còn khá khắt khe, thủ tục phức tạp và thời gian giải ngân kéo dài. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong việc tiếp cận nguồn vốn để đầu tư phát triển sản xuất. Cần có những giải pháp để đơn giản hóa thủ tục vay vốn, nới lỏng điều kiện vay và tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp nông nghiệp.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Ưu Đãi Đầu Tư Nông Nghiệp

Để khắc phục những hạn chế và bất cập, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện để hoàn thiện pháp luật ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp. Các giải pháp này cần tập trung vào việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường tính minh bạch và công bằng của chính sách, mở rộng đối tượng được hưởng ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương trong quá trình thực thi chính sách, đảm bảo tính hiệu quả và khả thi. Nghiên cứu từ Đại học Cần Thơ đã đề xuất nhiều giải pháp cụ thể, có giá trị tham khảo cao.

3.1. Đơn giản hóa thủ tục hành chính về ưu đãi đầu tư

Thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp là một trong những rào cản lớn nhất đối với các nhà đầu tư vào nông nghiệp. Cần có những giải pháp để đơn giản hóa thủ tục, giảm thiểu thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính. Áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình giải quyết thủ tục hành chính, xây dựng cơ chế một cửa liên thông giữa các cơ quan nhà nước là những giải pháp hiệu quả. Điều này giúp tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và hấp dẫn.

3.2. Mở rộng đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư nông nghiệp

Chính sách ưu đãi đầu tư cần được mở rộng để bao phủ nhiều hơn các đối tượng tham gia vào chuỗi giá trị nông nghiệp, từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ. Ưu tiên các dự án đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch và các dự án có liên kết với người nông dân. Điều này giúp thúc đẩy quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp và phát triển bền vững.

IV. Nghiên Cứu Pháp Luật Ưu Đãi Đầu Tư Ứng Dụng Thực Tiễn

Nghiên cứu về pháp luật ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa ứng dụng thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, góp phần cải thiện môi trường đầu tư và thu hút vốn vào ngành nông nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu cũng cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, giúp họ hiểu rõ hơn về các chính sách ưu đãi và đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn. Trường Đại học Cần Thơ đã tích cực phối hợp với các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp để triển khai kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

4.1. Đề xuất sửa đổi bổ sung luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, cần có những đề xuất cụ thể để sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành, nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp. Các đề xuất này cần tập trung vào việc giải quyết những bất cập, hạn chế đã được chỉ ra trong quá trình nghiên cứu, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tiễn.

4.2. Xây dựng cơ sở dữ liệu về chính sách ưu đãi đầu tư nông nghiệp

Cần xây dựng một cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác và cập nhật về các chính sách ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp. Cơ sở dữ liệu này cần được công khai, minh bạch và dễ dàng tiếp cận, giúp các nhà đầu tư có thể tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và thuận tiện. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến đầu tư và thu hút vốn vào ngành nông nghiệp.

V. Kết Luận Tương Lai Pháp Luật Ưu Đãi Đầu Tư Nông Nghiệp

Pháp luật ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để phát huy tối đa vai trò này, cần có những nỗ lực không ngừng để hoàn thiện pháp luật, cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư. Nghiên cứu từ Trường Đại học Cần Thơ đã cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho quá trình này. Với sự chung tay của các cơ quan nhà nước, các nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp, tương lai của pháp luật ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ ngày càng tươi sáng.

5.1. Tiếp tục nghiên cứu và đánh giá tác động của chính sách

Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu và đánh giá tác động của các chính sách ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp. Điều này giúp phát hiện những vấn đề mới phát sinh và đề xuất các giải pháp kịp thời. Đồng thời, cần có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện doanh nghiệp vào quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách.

5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế về thu hút đầu tư nông nghiệp

Cần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thu hút đầu tư vào nông nghiệp, học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển và thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực, ký kết các hiệp định thương mại tự do là những giải pháp quan trọng. Điều này giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và thu hút các nguồn lực để phát triển ngành nông nghiệp.

06/06/2025
Pháp luật về ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của nước ta lấy canh nông làm gốc. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nước muốn giàu thì phải biết phát triển nông nghiệp”4.

Để ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì cần phải có nguồn vốn đầu tư lớn. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của sản xuất nông nghiệp là chịu sự tác động và chi phối từ các yếu tố tự nhiên, cho nên đến nay lĩnh vực này vẫn còn kém sức hấp dẫn nhà đầu tư so với các lĩnh vực khác. Đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ưu đãi đầu tư được đánh giá là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư tư nhân vào lĩnh vực này tiến tới mục tiêu cải thiện đời sống của người nông dân, đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay. Khái quát về đầu tư 1.

Khái niệm đầu tư Ở bất kỳ quốc gia nào việc vận động, khuyến khích các nguồn lực trong xã hội để đầu tư vào các hoạt động kinh tế nhằm thu được các kết quả, lợi ích nhất định trong tương lai là điều không thể thiếu. Đầu tư là khái niệm thường xuyên được đề cập đến trong kinh tế học nói chung và pháp luật về kinh tế nói riêng. Hoạt động đầu tư vào nền kinh tế là hoạt động mang tính thường xuyên, liên tục có ý nghĩa, là nền tảng tồn tại của xã hội và phát triển nền kinh tế. Hầu hết các tư tưởng, mô hình lý thuyết về kinh tế, tăng trưởng kinh tế đều trực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận đầu tư và việc tích lũy vốn cho nền kinh tế, là một nhân tố quan trọng trong việc gia tăng năng lực sản xuất, cung ứng dịch vụ; làm tiền đề, động lực cho sự phát triển nền kinh tế5.

Có nhiều cách hiểu về đầu tư, xuất phát từ việc xem xét hoạt động này ở nhiều phương diện khác nhau. Theo Từ điển kinh tế học hiện đại: “Đầu tư là thuật ngữ được dùng phổ biến nhất để mô tả các khoản chi tiêu (trong một thời kỳ nhất định) để làm tăng hay duy trì tài sản thực”6. Trên thực tế, một định nghĩa chính xác hơn bao hàm được yếu tố trên là: “Đầu tư là những khoản chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng hóa, những khoản chi tiêu này không dự định dùng cho tiêu dùng trung gian. Các dự án đầu tư có thể có dạng bổ sung vào tài sản vật chất và vốn nhân lực (tài sản con người) cũng như hàng hóa tồn kho.

Đầu tư là những khoản chi tiêu, khối lượng đầu tư được xác định bởi tất cả các dự án có giá trị hiện tại thuần (net present value - NPV) lớn hơn không (0) hay tỷ lệ lợi nhuận 4 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, NXB. Chính trị Quốc gia, tập VII, tr. 5 Nguyễn Xuân Đương (2015), Thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tr. Pearce (2001), Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB.

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. Hoặc theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đầu tư là hành động bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình, hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hay phát triển phúc lợi công cộng”8. Nhìn chung, các định nghĩa về đầu tư nêu trên cho thấy nội hàm của khái niệm này rất rộng, bao gồm cả đầu tư vào tài sản vật chất và nhân lực. Đồng thời, nhấn mạnh vào đầu tư phát triển, vào hình thái biểu hiện và động lực của đầu tư là tăng tích lũy cho nội tại nền kinh tế và góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển tốt hơn.

Ở góc độ kinh tế học, đầu tư được hiểu như sau: “Đầu tư chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai. Từ phương diện này đầu tư còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản. Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính. Còn tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản bị loại trừ.

Việc gia tăng tư bản tư nhân (tăng thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân. Còn gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công cộng”9. Mặt khác, được hiểu “đầu tư là phần sản lượng được tích lũy để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế”10. Theo đó, phần sản lượng ở đây bao gồm phần sản lượng được sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài - theo luồng sản phẩm; đối với loại sản phẩm hữu hình như nhà cửa, công trình xây dựng cơ bản, máy móc thiết bị.

hay các sản phẩm vô hình như bằng phát minh sáng chế, phí chuyển nhượng tài sản. Nhà kinh tế học người Mỹ Paul A.Samuelson và William D.Nordhaus (1989) cho rằng: “Đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại nhằm tăng tiêu dùng trong tương lai”11. Như vậy, nhìn chung các nhà kinh tế học đều nhấn mạnh đến mục đích của đầu tư là thu được về nhiều hơn những gì bỏ ra, nói cách khác đó là tính sinh lợi của hoạt động đầu tư. Cùng quan điểm này, PGS.

Nguyễn Bạch Nguyệt và PGS. Từ Quang Phương cũng cho rằng: “Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Các nguồn lực được sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội”12.

Về phương diện pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc mục đích kinh tế - xã hội khác. Hoạt động đầu tư có thể có 7 David W.Pearce (2001), tlđd, tr. 8 Trung tâm soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 1), NXB. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.

9 Nguyễn Minh Cảnh (2012), Một số vấn đề pháp lý về đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ Luật kinh tế, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 10 Bùi Bá Cường và Bùi Trinh (2009), Một số vấn đề vốn và đầu tư, NXB. Hà Nội, tr. Nordhaus, Biên dịch bởi Nguyễn Tư Huyên và ctv (1989), Kinh tế học (tái bản lần thứ nhất), NXB.

Viện Quan hệ quốc tế, tr. 12 Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương (2010), Giáo trình Kinh tế đầu tư, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB. Đại học Kinh tế Quốc dân, tr. 8 tính chất kinh doanh (thương mại) hoặc phi thương mại13.

Như vậy, trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập là hoạt động đầu tư kinh doanh, với bản chất là “sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm gia tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận”14. Do đó, các nhà lập pháp cho rằng các lợi ích kinh tế mà hoạt động đầu tư hướng đến là đương nhiên, không cần phải nhắc đến. Tuy nhiên, để đạt được các lợi ích đó không thể bằng mọi cách mà phải được kiểm soát và thực hiện theo một trình tự pháp lý nhất định. Theo quy định pháp luật một số nước, đầu tư được hiểu là: Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào năm 2004: “Đầu tư nước ngoài là các nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn, bao gồm các tài sản, công nghệ và tay nghề vào CHDCND Lào để thực hiện hoạt động kinh doanh”15.

Hay theo Luật đầu tư nước ngoài của Cộng hòa Liên bang Nga thì: “Đầu tư nước ngoài là tất cả các hình thức giá trị tài sản hay giá trị tinh thần mà người đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng của hoạt động đầu tư kinh doanh và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận”16. Tương tự, Luật đầu tư nước ngoài của Ucraina quy định: “Đầu tư nước ngoài là tất cả các hình thức giá trị do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng của hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận hoặc các hiệu quả xã hội”17. Như vậy, nhìn chung quy định pháp luật một số nước trên thế giới không trực tiếp nêu định nghĩa đầu tư. Nhưng về cơ bản, những quy định này đều thừa nhận đầu tư là việc nhà đầu tư phải bỏ vốn để tiến hành thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm thu về lợi ích lớn hơn trong trong lai.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam trước khi ban hành Luật đầu tư năm 2005, khái niệm đầu tư chưa được ghi nhận thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, được sửa đổi bổ sung qua các năm 1990, năm 1992, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 không định nghĩa thế nào là đầu tư, nhưng có giải thích về “đầu tư nước ngoài”18, “đầu tư trực tiếp nước ngoài”19 và “đầu tư trong nước”20. Mặc dù không trực tiếp giải thích đầu tư là gì nhưng thông qua các khái niệm có liên quan đến hoạt động đầu tư được nêu trên có thể hiểu, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn và các tài sản khác để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam. 13 Bùi Ngọc Cường chủ biên (2011), Giáo trình Luật đầu tư (tái bản lần thứ tư), Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB.

Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 14 Henry Campbell Black - Author (1991), Black’S Law Dictionary, Centennial Edition (Sixth Edition), Centennial Edition, page 825.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Pháp Luật Ưu Đãi Đầu Tư Trong Nông Nghiệp: Nghiên Cứu Từ Trường Đại Học Cần Thơ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chính sách pháp luật liên quan đến đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định hiện hành mà còn nêu bật những lợi ích mà các nhà đầu tư có thể nhận được từ việc tham gia vào lĩnh vực này. Đặc biệt, nó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức mà các ưu đãi đầu tư có thể thúc đẩy sự phát triển bền vững trong nông nghiệp, từ đó tạo ra giá trị kinh tế và xã hội cho cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý đầu tư trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý vốn đầu tư phát triển tại bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thức quản lý và phát triển vốn đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề này.