CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của nước ta lấy canh nông làm gốc. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nước muốn giàu thì phải biết phát triển nông nghiệp”4.
Để ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì cần phải có nguồn vốn đầu tư lớn. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của sản xuất nông nghiệp là chịu sự tác động và chi phối từ các yếu tố tự nhiên, cho nên đến nay lĩnh vực này vẫn còn kém sức hấp dẫn nhà đầu tư so với các lĩnh vực khác. Đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ưu đãi đầu tư được đánh giá là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư tư nhân vào lĩnh vực này tiến tới mục tiêu cải thiện đời sống của người nông dân, đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay. Khái quát về đầu tư 1.
Khái niệm đầu tư Ở bất kỳ quốc gia nào việc vận động, khuyến khích các nguồn lực trong xã hội để đầu tư vào các hoạt động kinh tế nhằm thu được các kết quả, lợi ích nhất định trong tương lai là điều không thể thiếu. Đầu tư là khái niệm thường xuyên được đề cập đến trong kinh tế học nói chung và pháp luật về kinh tế nói riêng. Hoạt động đầu tư vào nền kinh tế là hoạt động mang tính thường xuyên, liên tục có ý nghĩa, là nền tảng tồn tại của xã hội và phát triển nền kinh tế. Hầu hết các tư tưởng, mô hình lý thuyết về kinh tế, tăng trưởng kinh tế đều trực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận đầu tư và việc tích lũy vốn cho nền kinh tế, là một nhân tố quan trọng trong việc gia tăng năng lực sản xuất, cung ứng dịch vụ; làm tiền đề, động lực cho sự phát triển nền kinh tế5.
Có nhiều cách hiểu về đầu tư, xuất phát từ việc xem xét hoạt động này ở nhiều phương diện khác nhau. Theo Từ điển kinh tế học hiện đại: “Đầu tư là thuật ngữ được dùng phổ biến nhất để mô tả các khoản chi tiêu (trong một thời kỳ nhất định) để làm tăng hay duy trì tài sản thực”6. Trên thực tế, một định nghĩa chính xác hơn bao hàm được yếu tố trên là: “Đầu tư là những khoản chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng hóa, những khoản chi tiêu này không dự định dùng cho tiêu dùng trung gian. Các dự án đầu tư có thể có dạng bổ sung vào tài sản vật chất và vốn nhân lực (tài sản con người) cũng như hàng hóa tồn kho.
Đầu tư là những khoản chi tiêu, khối lượng đầu tư được xác định bởi tất cả các dự án có giá trị hiện tại thuần (net present value - NPV) lớn hơn không (0) hay tỷ lệ lợi nhuận 4 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, NXB. Chính trị Quốc gia, tập VII, tr. 5 Nguyễn Xuân Đương (2015), Thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tr. Pearce (2001), Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. Hoặc theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đầu tư là hành động bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình, hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hay phát triển phúc lợi công cộng”8. Nhìn chung, các định nghĩa về đầu tư nêu trên cho thấy nội hàm của khái niệm này rất rộng, bao gồm cả đầu tư vào tài sản vật chất và nhân lực. Đồng thời, nhấn mạnh vào đầu tư phát triển, vào hình thái biểu hiện và động lực của đầu tư là tăng tích lũy cho nội tại nền kinh tế và góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển tốt hơn.
Ở góc độ kinh tế học, đầu tư được hiểu như sau: “Đầu tư chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai. Từ phương diện này đầu tư còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản. Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính. Còn tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản bị loại trừ.
Việc gia tăng tư bản tư nhân (tăng thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân. Còn gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công cộng”9. Mặt khác, được hiểu “đầu tư là phần sản lượng được tích lũy để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế”10. Theo đó, phần sản lượng ở đây bao gồm phần sản lượng được sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài - theo luồng sản phẩm; đối với loại sản phẩm hữu hình như nhà cửa, công trình xây dựng cơ bản, máy móc thiết bị.
hay các sản phẩm vô hình như bằng phát minh sáng chế, phí chuyển nhượng tài sản. Nhà kinh tế học người Mỹ Paul A.Samuelson và William D.Nordhaus (1989) cho rằng: “Đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại nhằm tăng tiêu dùng trong tương lai”11. Như vậy, nhìn chung các nhà kinh tế học đều nhấn mạnh đến mục đích của đầu tư là thu được về nhiều hơn những gì bỏ ra, nói cách khác đó là tính sinh lợi của hoạt động đầu tư. Cùng quan điểm này, PGS.
Nguyễn Bạch Nguyệt và PGS. Từ Quang Phương cũng cho rằng: “Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Các nguồn lực được sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội”12.
Về phương diện pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc mục đích kinh tế - xã hội khác. Hoạt động đầu tư có thể có 7 David W.Pearce (2001), tlđd, tr. 8 Trung tâm soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 1), NXB. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.
9 Nguyễn Minh Cảnh (2012), Một số vấn đề pháp lý về đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ Luật kinh tế, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 10 Bùi Bá Cường và Bùi Trinh (2009), Một số vấn đề vốn và đầu tư, NXB. Hà Nội, tr. Nordhaus, Biên dịch bởi Nguyễn Tư Huyên và ctv (1989), Kinh tế học (tái bản lần thứ nhất), NXB.
Viện Quan hệ quốc tế, tr. 12 Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương (2010), Giáo trình Kinh tế đầu tư, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB. Đại học Kinh tế Quốc dân, tr. 8 tính chất kinh doanh (thương mại) hoặc phi thương mại13.
Như vậy, trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập là hoạt động đầu tư kinh doanh, với bản chất là “sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm gia tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận”14. Do đó, các nhà lập pháp cho rằng các lợi ích kinh tế mà hoạt động đầu tư hướng đến là đương nhiên, không cần phải nhắc đến. Tuy nhiên, để đạt được các lợi ích đó không thể bằng mọi cách mà phải được kiểm soát và thực hiện theo một trình tự pháp lý nhất định. Theo quy định pháp luật một số nước, đầu tư được hiểu là: Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào năm 2004: “Đầu tư nước ngoài là các nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn, bao gồm các tài sản, công nghệ và tay nghề vào CHDCND Lào để thực hiện hoạt động kinh doanh”15.
Hay theo Luật đầu tư nước ngoài của Cộng hòa Liên bang Nga thì: “Đầu tư nước ngoài là tất cả các hình thức giá trị tài sản hay giá trị tinh thần mà người đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng của hoạt động đầu tư kinh doanh và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận”16. Tương tự, Luật đầu tư nước ngoài của Ucraina quy định: “Đầu tư nước ngoài là tất cả các hình thức giá trị do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng của hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận hoặc các hiệu quả xã hội”17. Như vậy, nhìn chung quy định pháp luật một số nước trên thế giới không trực tiếp nêu định nghĩa đầu tư. Nhưng về cơ bản, những quy định này đều thừa nhận đầu tư là việc nhà đầu tư phải bỏ vốn để tiến hành thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm thu về lợi ích lớn hơn trong trong lai.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam trước khi ban hành Luật đầu tư năm 2005, khái niệm đầu tư chưa được ghi nhận thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, được sửa đổi bổ sung qua các năm 1990, năm 1992, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 không định nghĩa thế nào là đầu tư, nhưng có giải thích về “đầu tư nước ngoài”18, “đầu tư trực tiếp nước ngoài”19 và “đầu tư trong nước”20. Mặc dù không trực tiếp giải thích đầu tư là gì nhưng thông qua các khái niệm có liên quan đến hoạt động đầu tư được nêu trên có thể hiểu, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn và các tài sản khác để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam. 13 Bùi Ngọc Cường chủ biên (2011), Giáo trình Luật đầu tư (tái bản lần thứ tư), Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB.
Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 14 Henry Campbell Black - Author (1991), Black’S Law Dictionary, Centennial Edition (Sixth Edition), Centennial Edition, page 825.