phần Mở đầu, Kết luận, nội dung luận văn đƣợc chia làm 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Lý luận chung về thuế giá trị gia tăng và pháp luật về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thực tiễn thực hiện pháp luật thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa bàn Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng và tăng cƣờng quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Quận Tân Bình.
5 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm và đặc điểm thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm về thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng đƣợc Carl Friendrich Von Siemen (Ngƣời Đức) là ngƣời đầu tiên nghiên cứu về sắc thuế này.
Sau đó đƣợc Maurice Lauré (giám đốc cơ quan thuế của Pháp) tiếp tục nghiên cứu và loại thuế này đƣợc áp dụng lần đầu từ ngày 10/4/1954 đối với các doanh nghiệp lớn và mở rộng theo thời gian tới tất cả các bộ phận kinh tế. 194] Thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắc là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT), đƣợc dịch ra tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng. Hiện nay, thuế giá trị gia tăng đã đƣợc áp dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới và đã có khoảng 150 quốc gia áp dụng loại thuế này. Giá trị gia tăng là một thuật ngữ để chỉ phần giá trị tăng thêm trong quá trình sản xuất, kinh doanh HHDV đƣợc thực hiện qua các khâu lƣu thông mà có [19, Tr.
Khi HHDV đƣợc lƣu thông trong thị trƣờng thì các chủ thể kinh doanh thƣờng phải cộng thêm chi phí và phần lợi nhuận thu từ ngƣời mua vào giá bán vì mục tiêu lợi nhuận. Do đó làm xuất hiện phần chênh lệch “giá trị gia tăng” từ việc cung ứng hàng hóa dịch vụ từ khâu này sang khâu khác (HHDV ở khâu sau thƣờng cao hơn ở khâu trƣớc). Trong môi trƣờng vĩ mô, các chủ thể khi thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ phải chịu sự điều tiết về thuế của Nhà nƣớc, vì vậy, phần giá trị tăng thêm trong quá trình lƣu thông hàng hóa thu đƣợc phải chịu sự điều tiết của thuế giá trị gia tăng. Thuế giá trị gia tăng chính là một trong những biện pháp đặc biệt mà Nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực bên ngoài vào khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế, xã 6 hội của nhà nƣớc.
Những hoạt động làm phát sinh ra thuế giá trị gia tăng là những hoạt động kinh tế của ngƣời nộp thuế. Các hoạt động chuyển giao tài sản hoặc cung ứng dịch vụ có thanh toán bằng tiền hoặc quy ra tiền làm phát sinh thuế giá trị gia tăng. Do đó, thuế giá trị gia tăng đƣợc khái niệm: Là loại thuế tính trên giá trị tăng thêm của HHDV phát sinh trong quá trình từ sản xuất lưu thông đến tiêu dùng. Đặc điểm của thuế GTGT Thứ nhất, thuế giá trị gia tăng có phạm vi đối tượng chịu thuế rất rộng.
Đối tƣợng chịu thuế giá trị gia tăng rộng vì đây là sắc thuế thu vào mọi chủ thể có hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nhập khẩu HHDV. Hầu hết các hàng hóa dịch vụ đƣợc tạo ra trong nền kinh tế đều là đối tƣợng chịu thuế giá trị gia tăng. Điều này cũng có nghĩa rằng, mọi tổ chức, cá nhân đều là những chủ thể bị điều tiết bởi thuế giá trị gia tăng thông qua việc họ phải trả tiền thuế giá trị gia tăng khi tiêu dùng HHDV. Việc áp dụng thuế trên phạm vi lãnh thổ với mọi đối tƣợng thể hiện sự công bằng của thuế, đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nƣớc đối với các loại tiêu dùng trong xã hội.
Trong trƣờng hợp cần khuyến khích tiêu dùng hoặc hạn chế việc trả tiền thuế của ngƣời tiêu dùng, Nhà nƣớc sẽ không đánh thuế hoặc đánh thuế với mức thuế suất thấp nhất. Thứ hai, thuế GTGT có căn cứ tính thuế là phần giá trị tăng thêm trong các khâu của quá trình lưu thông từ sản xuất đến tiêu dùng. Căn cứ tính thuế dựa trên phần giá trị tăng thêm của HHDV. Đây là điểm ƣu việt vƣợt của thuế giá trị gia tăng so với thuế doanh thu trƣớc đây.
Giải quyết tình trạng thuế trùng thuế qua các khâu của quá trình lƣu thông hàng hóa, góp phần tạo ra sự công bằng giữa các chủ thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, kích thích lƣu thông hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng. Thuế giá trị gia tăng chỉ thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Xuất phát từ quan điểm thuế GTGT là thuế đánh vào giá trị tăng thêm của HHDV, vì vậy tất cả những hoạt động làm cho giá trị của 7 HHDV tăng lên có thể coi là tiền đề “sinh ra” thuế GTGT [19, Tr. Những hoạt động đƣợc coi là tiền đề sinh ra thuế giá trị gia tăng là những hoạt động kinh tế của ngƣời nộp thuế.
Đây là các hoạt động chuyển giao tài sản hoặc cung ứng dịch vụ có thanh toán bằng tiền hoặc quy ra tiền làm phát sinh GTGT. Trƣờng hợp hàng hóa dịch vụ không có giá trị gia tăng thì sẽ không phải nộp thuế, hoặc nếu giá trị gia tăng âm thì đƣợc xem xét hoàn thuế giá trị gia tăng. Đặc điểm này yêu cầu các chủ thể là đối tƣợng nộp thuế phải tự kiểm soát lẫn nhau về giá trị HHDV nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Hệ quả của căn cứ này là nhằm khuyến khích các chủ thể sản xuất, kinh doanh sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ nhằm chứng minh giá trị tăng thêm làm căn cứ tính thuế, góp phần làm lành mạnh hóa thị trƣờng và nhà nƣớc có thể kiểm soát đƣợc giá cả, số lƣợng HHDV lƣu thông trên thị trƣờng nhằm kiểm soát lạm phát và cung cấp số liệu thống kê hợp lý cho các mục đích kinh tế khác.
Thứ ba, thuế giá trị gia tăng mang bản chất liên hoàn và có tính trung lập cao [19, Tr. 17] Bản chất liên hoàn của thuế giá trị gia tăng thể hiện ở quan hệ mua bán và trao đổi hàng hóa trên thị trƣờng. Thuế giá trị gia tăng đầu ra của doanh nghiệp bán là thuế giá trị gia tăng đầu vào của doanh nghiệp mua. Thuế giá trị gia tăng phải nộp của mỗi doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào doanh số bán ra và thuế suất mà còn phụ thuộc vào thuế giá trị gia tăng ở doanh nghiệp cung ứng đầu vào.
Từ bản chất liên hoàn này, pháp luật thuế giá trị gia tăng cũng quy định cuối tháng, quý, năm các đối tƣợng nộp thuế giá trị gia tăng phải tờ khai báo cáo số thuế giá trị gia tăng đầu ra đầu vào đƣợc khấu trừ cho cơ quan thuế để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng. Tính trung lập đƣợc thể hiện ở hai khía cạnh. Thứ nhất, thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hƣởng bởi kết quả kinh doanh của ngƣời nộp thuế, do ngƣời nộp thuế chỉ là ngƣời “thay mặt” ngƣời tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào Ngân sách nhà nƣớc. Do vậy thuế giá trị gia tăng không phải là yếu tố của chi 8 phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu đƣợc cộng thêm vào giá bán của ngƣời cung cấp hàng hóa dịch vụ.
Thứ hai, thuế giá trị gia tăng không bị ảnh hƣởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Nền kinh tế nƣớc ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc, cũng giống nhƣ các sắc thuế khác, thuế GTGT có vai trò to lớn để Nhà nƣớc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, tuy nhiên bên cạnh vai trò đó thuế GTGT còn thể hiện vai trò riêng có của nó: Một là, thuế giá trị gia tăng có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng, góp phần đảm bảo tính công bằng xã hội. Luật thuế giá trị gia tăng quy định các HHDV chịu thuế và không chịu thuế; về thuế suất cũng áp dụng các mức thuế suất khác nhau cho các nhóm hàng hóa dịch vụ. Thông qua công cụ thuế nó tác động và làm thay đổi mối quan hệ cung cầu trên thị trƣờng từ đó tác động đến sự đầu tƣ sản xuất và việc lựa chọn hàng hóa để sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
Từ đó góp phần điều tiết thu nhập, đảm bảo tính công bằng xã hội, khuyến khích tăng năng suất, phát triển kinh tế xã hội. Hai là, thuế giá trị gia tăng là một trong những sắc thuế có nguồn thu quan trọng của Ngân sách nhà nước. Thuế giá trị gia tăng tạo nguồn thu lớn và tƣơng đối ổn định cho ngân sách nhà nƣớc. Thuế giá trị gia tăng không trùng lắp, do thuế giá trị gia tăng chỉ tính vào giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ qua các khâu sản xuất, lƣu thông, tiêu dùng, không tính vào phần giá trị đã chịu thuế giá trị gia tăng ở các khâu trƣớc, thuế đã nộp ở các khâu trƣớc đƣợc tính khấu trừ ở khâu sau nên khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh, khuyến 9 khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế thị trƣờng.
Thứ ba, thuế giá trị gia tăng tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể góp phần làm minh bạch hóa nền kinh tế Thuế giá trị gia tăng tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh vì pháp luật thuế giá trị gia tăng quy định những chủ thể tạo ra giá trị gia tăng nhƣ nhau thì có nghĩa vụ nộp thuế nhƣ nhau.