CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát về Thuế GTGT và DNNVV 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế GTGT * Khái niệm: “Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. * Đặc điểm của thuế GTGT: “Là một loại thuế gián thu, tính gián thu của thuế GTGT được biểu hiện ở việc NNT và người chịu thuế không đồng nhất với nhau.
Người mua hàng hóa dịch vụ là người phải trả thuế GTGT thông qua giá mua của hàng hóa, dịch vụ. Người bán hàng hóa dịch, vụ thực hiện nộp khoản thuế GTGT đã được người mua trả vào NSNN. Thuế GTGT đánh vào giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Là một loại thuế có tính trung lập cao, thuế GTGT không chịu ảnh hướng bởi kết quả kinh doanh của NNT và không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ.” (Tổng cục Thuế (2019, 224), Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch kiểm tra viên chính, Nhà xuất bản Tài chính) * Vai trò của thuế GTGT: “Thuế GTGT là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Là khoản thu quan trọng của NSNN. Ở Việt Nam, tỷ trọng thuế GTGT trong tổng số thu NSNN hàng năm (trừ dầu thô) chiếm khoảng 27-29%.
5 Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế thị trường. Khuyến khích xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%. Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ không phải chịu thuế GTGT khâu xuất khẩu và còn được hoàn số thuế GTGT đầu vào đã thu ở khâu trước nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của DNNVV * Khái niệm DNNVV: “DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
* Đặc điểm của DNNVV: - DNNVV có quy mô nhỏ, ít vốn, chi phí quản lý đào tạo không lớn, thường hướng vào những lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có sức mua cao, dung lượng thị trường lớn, nên huy động được các nguồn lực xã hội, các nguồn vốn còn tiềm ẩn trong dân, tận dụng được các nguồn nguyên vật liệu, nhân lực tại chỗ. - Nhạy cảm với những biến động của thị trường, chuyển đổi mặt hàng nhanh phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. - Số lượng và chất lượng lao động trong DNNVV thấp, đặc biệt trong các doanh nghiệp nhỏ, công nhân thường là người trong gia đình, giám đốc thường đảm nhiệm cả vai trò điều hành, nhân sự, marketing,… - DNNVV chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại chứ không tập trung vào sản xuất và chế biến. Chủ yếu là các ngành nghề liên quan đến mua bán sản xuất đồ dùng, các loại dịch vụ và phân bổ hàng tiêu dùng.
* Vai trò của DNNVV: - Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: DNNVV được ví như thanh giảm sóc cho nền kinh tế, bởi vì DNNVV ở phần lớn các nền kinh tế đều là những nhà thầu phụ cho các 6 doanh nghiệp lớn, sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. - Là trụ cột của kinh tế địa phương: Doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các tỉnh thành, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động ở địa phương và đóng góp không nhỏ giá trị GDP cho quốc gia. - Góp phần tạo thêm nguồn thu NSNN cho địa phương: Khi DNNVV phát triển, sẽ làm thu nhập của người làm việc trong doanh nghiệp tăng lên và khi thu thập tăng lên sẽ kích thích người dân mua sắm hàng hóa do đó số thuế GTGT nộp vào NSNN cũng tăng lên. Đồng thời khi nhu cầu tiêu dùng tăng lên, doanh nghiệp làm ăn có lãi sẽ tiếp tái đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh và sẽ nộp thuế nhiều hơn cho NSNN.
Quản lý Thuế GTGT đối với DNNVV tại Chi cục thuế 1.1 Khái niệm quản lý thuế GTGT đối với DNNVV Theo giáo trình Quản lý thuế của Học viện Tài chính (2016) thì: Quản lý thuế có thể được hiểu là quá trình tác động của cơ quan quản lý thuế đến người nộp thuế nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thuế. Quá trình tác động của cơ quan quản lý thuế nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của người nộp thuế là quá trình tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế như tuyên truyền thuế, hỗ trợ người nộp thuế, quản lý kê khai thuế, kế toán thuế, thanh tra thuế, kiểm tra thuế, đôn đốc thu nộp và quản lý nợ thuế, cưỡng chế nợ thuế. Tuân thủ pháp luật của người nộp thuế bao gồm tuân thủ về đăng ký thuế, kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ khác về thuế. Theo giáo trình Tài chính công của khoa Tài chính Nhà nước, Trường đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2005) thì: “Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện”… “Đó là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định”.
Như vậy, quản lý thuế GTGT đối với DNNVV là hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan thuế, tác động đến đối tượng để đảm bảo pháp luật về thuế GTGT được thực thi nhằm mục đích thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thuế GTGT của DNNVV vào NSNN. Nguyên tắc quản lý thuế GTGT đối với DNNVV Theo Điều 5 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 thì quản lý thuế GTGT đối với DNNVV gồm các nguyên tắc sau: 7 Thứ nhất: DNNVV có nghĩa vụ nộp thuế GTGT theo quy định của luật. Thứ hai: Cơ quan quản lý thuế, các cơ quan khác của Nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý thu thực hiện việc quản lý thuế GTGT đối với DNNVV theo quy định của Luật Quản lý thuế và quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của NNT. Thứ ba: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế theo quy định của pháp luật.
Thứ tư: Thực hiện cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong quản lý thuế; áp dụng các nguyên tắc quản lý thuế theo thông lệ quốc tế, trong đó có nguyên tắc bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế, nguyên tắc quản lý rủi ro trong quản lý thuế và các nguyên tắc khác phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Thứ năm: Áp dụng biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật về hải quan và quy định của Chính phủ. Nội dung quản lý thuế GTGT đối với DNNVV Theo Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 để đảm bảo tính pháp lý cho việc thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của NNT, cơ quan thuế thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợ NNT; hướng dẫn kê khai thuế; kiểm tra thuế; cưỡng chế nợ thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế. Việc quy định rõ vai trò, nhiệm vụ, chức năng của từng bộ phận trong công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng nhằm hạn chế các tiêu cực cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp thực hiện đúng chính sách pháp luật thuế.
Do đó, quản lý thuế GTGT đối với DNNVV tại Chi cục Thuế gồm một số nội dung chính như sau: 1. Quản lý căn cứ tính thuế GTGT Quản lý căn cứ tính thuế luôn là vấn đề phức tạp, khó khăn. Căn cứ tính thuế sẽ quyết định số thuế phải nộp nhiều hay ít, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp. Còn ở góc độ quản lý, căn cứ tính thuế là cơ sở để đảm bảo xác định đúng số thuế nộp vào NSNN.
Hiện nay, thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm, do đó công tác quản lý căn cứ tính thuế càng trở nên quan trọng nếu không kiểm soát chặt chẽ sẽ là lỗ hổng để doanh nghiệp lợi dụng, gian lận thuế. 8 Công tác quản lý căn cứ tính thuế GTGT được thể hiện qua một số nội dung chính sau: - Quản lý giá tính thuế là việc tổ chức quản lý theo dõi doanh nghiệp áp giá tính thuế GTGT có đúng thực tế và quy định của Luật thuế GTGT hay không. - Quản lý việc áp dụng thuế suất là là việc tổ chức quản lý theo dõi doanh nghiệp áp thuế suất thuế GTGT đối với từng loại hoàng hóa, dịch vụ đúng với quy định hay không. - Quản lý hóa đơn, chứng từ là việc quản lý đăng ký, sử dụng hóa đơn trong cung ứng dịch vụ, hàng hóa phải tuân thủ quy định của pháp luật về kế toán, pháp luật về thuế.
Khi cung cấp dịch vụ, hàng hóa người bán phải lập hóa đơn để giao cho người mua không phân biệt giá trị từng lần bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. - Quản lý thuế GTGT đầu ra: Xác định thuế GTGT đầu ra là vấn đề đặc biệt được quan tâm vì nó ảnh hưởng đến số thuế GTGT phải nộp của doanh nghiệp.