Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.1 Hộ kinh doanh cá thể 1.1 Khái niệm hộ kinh doanh cá thể Theo quan niệm của thế giới, như pháp luật Anh quan niệm thương nhân đơn lẻ là một người tiến hành kinh doanh với tài khoản của mình; tự lựa chọn nơi thích hợp để hoạt động, có hoặc không có sự trợ giúp của người làm công trong kinh doanh; vốn góp ban đầu là nguồn vốn cá nhân do tiết kiệm hay do vay mượn cá nhân. Pháp luật Hoa kỳ quan niệm doanh nghiệp cá thể là một doanh thương được vận hành bởi một người như một tài sản cá nhân của người đó; và doanh nghiệp này là một sự mở rộng đơn thuần của chủ sở hữu cá nhân. Khi nói về thương nhân theo pháp luật Pháp, thương nhân thể nhân là một cá nhân chuyên thực hiện các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình. Theo hệ thống pháp luật này, cá nhân trở thành thương nhân là một vấn đề thực tế được xác định bởi toà án.
Nếu tên một cá nhân xuất hiện trong Sổ đăng ký thương mại tại toà án thương mại, thì người đó được xem là thương nhân. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện. Vậy, hộ kinh doanh cá thể tồn tại như một tất yếu khách quan, bắt nguồn từ nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội.
Hộ kinh doanh cá thể thuộc thành phần kinh tế cá thể không những tạo ra một lượng sản phẩm không nhỏ trong tổng sản phẩm xã hội mà nguồn thu từ thành phần kinh tế này vào Ngân sách Nhà nước cũng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn, đồng thời còn thu hút được một lực lượng lớn lao động 2 nhàn rỗi đáp ứng mọi yêu cầu của xã hội mà thành phần kinh tế quốc doanh chưa đảm bảo hết, tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp nhân dân.2 Đặc điểm hộ kinh doanh cá thể Hộ kinh doanh cá thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, dựa vào vốn và sức lao động của bản thân mình là chính. Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết định từ quá trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm. Hoạt động kinh tế mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động. Dễ dàng chuyển đổi ngành nghề cho phù hợp với yêu cầu của thị trường.
Toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và luôn tìm cách để đạt được lợi nhuận cao nhất. Hộ kinh doanh cá thể tham gia hoạt động kinh tế sản xuất kinh doanh là rất lớn ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế; có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng tạo, được phân bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc. Nhờ đó, họ có thể phát huy được sáng kiến của mình vào việc sản xuất và tìm tòi ra những hình thức kinh doanh thích hợp với nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn phổ biến. - Có tiềm năng về kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất, những bí quyết sản xuất truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ.
Thực tế những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc đã biết vận dụng đúng đắn tiềm năng này và đã thành công trong quá trình phát triển kinh tế. - Trong khi nguồn vốn của Nhà nước, của tập thể còn hạn hẹp thì nguồn vốn tiềm năng trong dân lại rất lớn. Do đó, nếu có các chính sách kinh tế hợp lý sẽ mở đường cho các hộ cá thể gia đình có khả năng bỏ vốn vào sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để tích luỹ, mở rộng tái sản xuất góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh chóng. - Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khu vực kinh tế cá thể đã thu hút một lực lượng lao động đáng kể, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho xã hội.
Với hình thức kinh doanh linh hoạt trong nhiều ngành nghề và sử dụng công nghệ - kỹ thuật thủ công, khu vực kinh tế cá thể có khả năng tận dụng lao động dôi thừa trong 3 xã hội. Bên cạnh những ưu thế trên, thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có một số mặt hạn chế. Đặc điểm của hộ cá thể là làm ăn riêng lẻ, tản mạn, rời rạc và luôn tìm mọi cách để tìm ra những chỗ sơ hở, non yếu trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn thuế. Dưới tác động của quy luật giá trị, thành phần kinh tế này rất dễ bị phân hoá.
Sự năng động của thành phần kinh tế cá thể mang tính chất tự phát theo thị trường, nếu thiếu sự định hướng thì sẽ không bao quát được nhu cầu thị trường. Để phát huy được những tiềm năng vốn có và khắc phục được những khiếm khuyết trên, cần phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước về kinh tế đối với thành phần kinh tế cá thể thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và môi trường hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh tế này hoạt động có hiệu quả, trở thành một thành phần kinh tế đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cho đất nước.2 Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng 1.1 Khái niệm - Nội dung kinh tế về thuế GTGT Khái niệm về thuế GTGT Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một loại thuế gián thu tính trên phần giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Giá trị gia tăng chính là giá trị tăng thêm đối với một sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ do cơ sở sản xuất, chế biến, buôn bán hoặc dịch vụ tác động vào nguyên, vật liệu thô hay hàng hóa mua vào, làm cho giá trị của chúng tăng thêm. Hay nói cách khác, đây là số chênh lệch giữa “giá đầu ra” và “giá đầu vào” do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Thuế GTGT là một trong những loại thuế gián thu điều tiết thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá dịch vụ. Mọi tổ chức, cá nhân thông qua việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ thực hiện nghĩa vụ thuế với ngân sách Nhà nước. Do đó, thuế 4 GTGT có tính trung lập cao, diện điều chỉnh rộng và chiếm tỷ lệ cao trong nguồn thu về thuế của nhà nước. Đối tượng nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế GTGT.
Đối tượng chịu thuế GTGT bao gồm hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đối tượng được Luật thuế GTGT không quy định chịu thuế GTGT. Nội dung kinh tế về thuế GTGT Một loại thuế được coi là lý tưởng khi nó thỏa mãn bốn tiêu chuẩn: đơn giản về mặt kỹ thuật, tức là không tạo ra cơ hội trốn thuế; hiệu quả về mặt tài chính, tức là có năng suất cao; công bằng về mặt xã hội, tức là đưa lại kết quả phân phối lại của cải xã hội và có tác dụng khuyến khích về mặt kinh tế, tức là có tác động thúc đẩy kinh tế phát triển. Xét theo bốn tiêu chuẩn này, thuế GTGT thể hiện tính hơn hẳn của nó so với thuế doanh thu. Thứ nhất, về kỹ thuật thuế GTGT đơn giản hơn thuế doanh thu.
Nếu thuế doanh thu bao gồm 11 mức thay đổi từ 0% đến 40% thì thuế GTGT chỉ bao gồm 3 mức (thuế suất 0%, 5%, 10%). Điều này giúp giảm đáng kể hiện tượng trốn thuế. Thứ hai, thuế GTGT hiệu quả hơn về tài chính thể hiện ở cơ sở tính thuế của nó rộng hơn. Về nguyên tắc, thuế GTGT đánh trên tất cả mọi hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng cuối cùng (trừ những trường hợp miễn thuế).
Thứ ba, về mặt xã hội thuế GTGT công bằng hơn nhờ vào cơ chế đánh thuế của nó với mức thuế suất thấp đánh vào các mặt hàng tiêu dùng thông thường và mức cao đánh vào các mặt hàng xa xỉ, nhờ đó nó góp phần vào phân phối lại thu nhập. Thứ tư, thuế GTGT có tác dụng khuyến khích hơn về mặt kinh tế nhờ vào cơ chế khấu trừ thuế đầu vào và miễn thuế đối với hàng xuất khẩu. Đặc biệt ở đây một ưu thế quan trọng nổi bật của thuế GTGT, đó là thuế GTGT giải quyết được vấn đề đánh thuế trùng lặp của thuế doanh thu, bởi vì nó chỉ 5 đánh một lần duy nhất trên giá trị của hàng hoá dịch vụ tiêu dùng cuối cùng không phụ thuộc vào độ dài của chu kỳ sản xuất và tiêu thụ các hàng hoá dịch vụ này. Để minh họa cho tính trung lập này của thuế GTGT, một cách khái quát và đơn giản, giả sử rằng trong nền kinh tế: - Chỉ có 2 giai đoạn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với n bước; - A, B,., M, N là giá trị chưa bao gồm thuế của sản phẩm ở các bước từ 1 đến n; - t là thuế suất đánh trên giá trị chưa bao gồm thuế, để đơn giản thuế suất bằng nhau đối với tất cả các bước; - T là tổng thuế doanh thu được; - T’ là tổng thuế GTGT thu được.
Theo nguyên tắc đánh thuế doanh thu, tổng số thuế thu được là: T = At+Bt +.+ Mt2 + Nt Theo nguyên tắc đánh thuế GTGT, tổng số thuế thu được là: T’ = Nt Chúng ta thấy rõ sự chênh lệch rất lớn về số thu giữa hai loại thuế nếu áp dụng cùng một thuế suất (T – T’). Sự khác nhau này là do thuế doanh thu đánh lặp đi lặp lại nhiều lần cùng những thành phần trong giá và thuế doanh thu của giai đoạn trước được tính gộp vào cơ sở tính thuế của giai đoạn sau. Như vậy chu kỳ sản xuất càng dài thì thuế doanh thu đánh trùng lặp càng nhiều lần.