CHƯƠNG 1 Chương Ì giới thiệu nội dung về các yêu tô ánh hưởng tới sự tuân thú thuế TNDN của các doanh nghiệp SME trên địa bản thành phố Vũng Tảu, tinh Ba Ria- Vũng Tàu. Các nội dung đã đề cập cụ thê bao gồm đặt vấn đè, tỉnh cấp thiết dé tai, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cầu luận văn. Chương 2 tiếp tục trình bày các cơ sở lý thuyết cơ bản và lược khảo các nghiên cứu có liên quan nhằm đẻ xuất mô hình cùng các giả thuyết nghiên cứu tương ứng về các yếu tô ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế TNDN. CHUONG 2: CO SO LY THUYET 2.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp nhỏ và vừa (tiếng Anh là Small and Medium Enterprise - SME) là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Doanh nghiệp SME có thê chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thẻ giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao đông từ 10 đến dưới 200 người và nguôn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng đê xác định doanh nghiệp SME ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngảy 30/6/2009, quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là doanh nghiệp vừa (Chính phú, 2009).1 - Phân loại quy mô doanh nghiệp Quy mô Đoanh nghiệp | Đoanh nghiệp nhỏ | Đoanh nghiệp vừa siêu nhỏ Lao động Von (ty | Lao déng | Vốn (tỷ | Lao động (người) dong) (người) đồng) (người) I.
Khu vực nông, Từ 10 trở Từ 20 trở | Trên 10 | Trên 20 | Trên 200 lâm nghiệp, thủy xuống xuống | đến200 | đến 100 | đến 300 sản H. Khu vực công Từ 10 trở Từ 20 trở | Trên 10 | Trên 20 | Trên 200 nghiệp. xây dựng xuống xuống đến 200 | đến 100 | đến 300 LH. Khu vực dịch Từ 10 trở Từ 10 trở | Trên 10 | Trên 10 | Trên 50 vụ xuống xuong den 50 den 50 | den 100 (Nguôn: Chính phú, 2009) 2.2 Thué thu nhập doanh nghiệp 2.1 Khái niệm Thuế là một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào ngân sách nhả nước, theo đó các thê nhân, pháp nhân phải chuyên giao bắt buộc một phần của cải của mình cho nhà nước mà không gắn bất kỳ sự ràng buộc nào vẻ sự hoàn trả lợi ích tương quan với số thuê đã nộp nhằm trang trải các chỉ phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và chi phí công cộng, đem lại lợi ích chung cho cộng đồng (Tông Cục thuế, 2009).
Như vậy, thuê là hình thức phân phối lại một phần nguồn tài chính của xã hội. không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Do đó, tại thời điểm nộp thuế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước. Nói cách khác thuế có thê được hiểu là khoản đóng góp theo luật định của mỗi tô chức, cá nhân đối với nhà nước, không hoàn trả trực tiếp ngang giá, nhưng được dùng đề trang trải các chỉ phí vì lợi ích chung của toàn dân như quốc phòng, an ninh, giao thông, giáo dục, y tế, mang tính cưỡng chế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định.
Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh trên phần thu nhập sau khi trừ đi các khoản chỉ phí hợp lý, hợp pháp liên quan đến thu nhập của đối tượng nộp thuế. Theo Điều 2 Luật thuế TNDN hiện hành thì người nộp thuế TNDN là tô chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hang hoa, dich vu co thu nhập chịu thué theo quy dinh cua Luat thuế TNDN. Thuế TNDN có thé được xem là loại thuế bổ sung hay loại thuế thu trước hoặc thu gộp của thuê thu nhập cá nhân đề tránh tình trạng thất thu và giảm bớt đầu mỗi thu.2 Đặc điềm Luật thuế TNDN được Quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và bắt đầu hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Cùng với công cuộc cải cách thuế bước Ï năm 1990, Luật thuế lợi tức đã được ra đời.
Qua 8 năm thực hiện, Luật thuê lợi tức đã bộc lộ nhiều điêm không còn phủ hợp với tình hình kinh tê Việt Nam trong giai đoạn mới - giai đoạn mớ rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thể giới. Vì vậy, Luật thuế TNDN đã được ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nên kinh tế. Thuế TNDN là thuế trực thu thường đánh lũy tiễn do việc đánh thuế có tính đến khả năng của người nộp. Thuê TNDN thường không sứ dụng thuế suất lũy tiền mà sử dụng thuế suất phô thông và một số mức thuế suất khác với mức thuế phô thông.
Mức thuê khác nhau này có thê được áp dụng đối với các nhóm đối tượng hoặc một số loại thu nhập khác nhau vì mục tiêu chính sách. Thuế TNDN đánh vào thu nhập của mỗi tô chức, pháp nhân kinh doanh và thường được coi như một loại thuế đánh vào vốn, bới vốn của một tô chức được hình thành từ sự đóng góp của các tô chức, cá nhân sở hữu nó. Trên góc độ kinh tế, thuế TNDN được xem như là một loại thuế “thu trước” hoặc “thu gộp "của thuê thu nhập cá nhân. Thông qua việc thu thuế TNDN, các chính phủ có thê giảm bớt được chí phí quản ký thu và hạn chế được nhiều rủi ro so với thu thuế thu nhập cá nhân.
Thuế TNDN phụ thuộc vảo kết quả hoạt động kinh doanh của người nộp thuế do bản chất thuế TNDN đánh vào lợi nhuận của hoạt động kinh doanh và các khoản thu nhập khác của hoạt động sản xuất, kinh doanh.3 Quá trình hình thành và phát triên thuế TNDN ở Việt Nam Năm 1997, Quốc hội ban hành Luật thuê TNDN dé thay thé cho Luật thuê lợi tức, áp dụng từ năm 1999. Đối với mọi tô chức, cá nhân trong nước không phân biệt ngành nghé, lĩnh vực kinh doanh đều áp dụng mức thuế suất 32%. Ngoài ra, những cơ sở kinh đoanh có lợi thế khách quan còn phải nộp thuê TNDN bồ sung (tối đa 25% thu nhập do lợi thế khách quan mang lại theo quy định của Chính Phú). Các dự án đầu tư lập doanh nghiệp mới thuộc ngành nghẻ, lĩnh vực hoặc địa bản khuyến khích đầu tư theo Luật khuyến khích đâu tư trong nước thì được áp dụng mức thuế suất ưu đãi 15%, 20% hoặc 25% tùy thuộc vào điều kiện đáp ứng được.
Ngày 17/6/2003, Quốc hội ban hành Luật thuế TNDN số 09/2003/QH11 có hiệu lực thi hành từ năm 2004. áp dụng thông nhất giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI với mức thuế suất phô thông là 28%. Tiếp đó, ngày 3/6/2008, Quốc hội 10 ban hành Luật thuế TNDN s6 14/2008/QH12 thay thé Luat thué TNDN sé 9/2003/QH11. Luat nay có hiệu lực thi hành kê từ ngày 01/01/2009.
Sau hơn 4 năm thực hiện, nhằm thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 201 1-2020 và khắc phục những bất cập của Luật thuế TNDN năm 2008, Quốc hội ban hành Luật số 32/2013/QH13 ngày 19/6/2013 sửa đôi, bô sung một số điều của Luật số 14/2008/QH12 với hiệu lực thi hành từ năm 2014. Một số chính sách uu dai danh cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa và doanh nghiệp tham gia hoạt động đâu tư, kinh doanh nhà ở xã hội được áp dụng ngay từ ngày 01/7/2013. Ngày 26/1 1/2014, Quốc hội thông qua Luật số 71/2014/QH13 sửa đôi. bô sung một số điều của các luật về thuế.
Trong luật nảy, có sửa đối, bỗ sung một số nội dung về thuế TNDN. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 quy định chí tiết thi hành thuế TNDN và Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 96/2015/TT-BTC hướng dẫn thi hành thuế TNDN. Ngoài ra, còn một số Thông tư do Bộ Tài chính để hướng dẫn một số lĩnh vực đặc biệt có liên quan đến thuế TNDN như khấu hao tài sản cô định, trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, trích lập tôn thất các khoản đâu tư tài chính, v.3 Tuân thủ thuế Khái niệm và tuân thủ thuế được phát triên và hiểu theo nhiều cách khác nhau. Định nghĩa về tuân thú thuế tiếp cận theo hướng kinh tế lưu ý đến những ảnh hướng kinh tế có thé có của hệ thống thuế và những biện pháp cưỡng chế.
Trên thực tế, thì cũng có thé rất có lý đê kết luận rằng việc quản lý thuế có thê làm giảm số tiền thuế tiềm năng thu được băng cách không khuyến khích các hoạt động kinh tế mà không thê thu thuế. Theo góc độ rộng vẻ tuân thủ thuế, Song và Yarbrough (1978) cho rằng người nộp thuế tự xác định nghĩa vụ thuế của mình và tự nguyện tuân thủ thuê. Điều này có thê hiểu là người nộp thuế và sự sẵn lòng tuân thủ theo luật thuế được xác định bởi vấn đề đạo đức, môi trường pháp lý, vả các yêu tô tình huồng khác tại từng thời gian và địa diém cu thé. Il Theo James va Alley (1999), tuan thu thuế được hiệu theo cách đơn giản nhất là mức độ mà người nộp thuế tuân thủ (hoặc không tuân thủ) theo những qui định và luật thuế của một quốc gia.
Tương tự như nhiều khái niệm khác, thì tuân thủ thuế có thé chi han hep tir cach tiếp cận cưỡng chế thi hành luật, đến những định nghĩa khác rộng hơn về khia cạnh kinh tế, và đến sự tuân thủ các mục tiêu rộng hơn của xã hội được thê hiện trong chính sách thuế của quốc gia. Andreoni và công sự (1998) nhắn mạnh tuân thủ thuế là sự sẵn lòng của người nộp thuê tuân theo pháp luật về thuế đề đạt được trạng thái cân bằng ngân sách của một đất nước, và bao gồm cả yếu tố thời gian. Định nghĩa này nêu được sự khác biệt cơ bản về tiền thuế được đóng mả không cần có những hoạt động cưỡng chế trực tiếp và sô tiên thuế đã đóng do cưỡng chế.