Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ KỸ THUẬT SỐ CỦA TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Dịch vụ kỹ thuật số và hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam 1. Dịch vụ kỹ thuật số Thuật ngữ “Dịch vụ kỹ thuật số” xuất hiện phổ biến trong thời gian gần đây gắn liền với sự phát triển của của cách mạng công nghiệp 4.0 và đi cùng với thời đại kinh tế số.
Kể từ đó, trong lĩnh vực thương mại điện tử, dịch vụ được phân chia thành 02 nhóm như được nêu trong Hình 1.1 gồm: DV KTS và dịch vụ khác: Hàng hóa TMĐT Dịch vụ KTS Dịch vụ Dịch vụ khác Hình 1.1: Phân loại đối tượng kinh doanh trong thương mại điện tử (Nguồn: tác giả) Hiện tại, chưa có khái niệm thống nhất hay tiêu chí chuẩn mực để xác định một dịch vụ trong thương mại điện tử là DV KTS. Do đó, khái niệm và 9 e phạm vi của DV KTS có sự thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi quốc gia. Chẳng hạn, trong Luật thuế hàng hóa, DV KTS của Mỹ có nêu [28]: “Các sản phẩm kỹ thuật số, hàng hóa hoặc DV KTS, được định nghĩa là hàng hóa, dịch vụ vô hình (phi vật lý) tồn tại ở định dạng điện tử hoặc kỹ thuật số. Chúng được gửi đến khách hàng đầu cuối bằng điện tử, chẳng hạn như qua email hoặc tải xuống trực tuyến”.
Theo khái niệm này thì phạm vi DV KTS của Mỹ bao gồm: (i) Dịch vụ xử lý dữ liệu trực tuyến. (ii) Tải về phần mềm. (iii) Tải sách điện tử. (iv) Tải nhạc, tệp âm thanh kỹ thuật số.
(v) Tải phim hoặc video kỹ thuật số. (vi) Tải về các hàng hóa kỹ thuật số khác. Theo hướng dẫn về thuế GTGT của Liên minh Châu Âu về thu thuế DV KTS quy định các tiêu chí tạo nên một DV KTS [25]:“Một dịch vụ - trái ngược với hàng hóa vật lý: (i) Dựa trên CNTT; (ii) Được cung cấp điện tử - thông qua internet, cáp đồng hoặc cáp quang và vệ tinh; (iii) Việc cung cấp hoàn toàn tự động – chỉ có sự can thiệp tối thiểu của con người” Theo đó, DV KTS theo quy định của Liên minh Châu Âu được chia thành 5 loại như: (i) Cung cấp video, âm nhạc, trò chơi, xổ số và các trò chơi may rủi khác: Tải phim hoặc chương trình xuống máy tính để bàn, máy tính xách tay và điện thoại; Chơi trực tuyến hoặc tải xuống các trò chơi, bao gồm cả người chơi từ xa; Cung cấp âm nhạc, phim ảnh, cá cược, phát sóng; Nhạc chung, nhạc chờ và âm nhạc. 10 e (ii) Dịch vụ trang web: Dịch vụ trang Web hỗ trợ tự động; Bảo trì và hỗ trợ tự động của các trang Web; Lưu trữ các Website; Các nhà cung cấp dịch vụ Internet; Dịch vụ lưu trữ dữ liệu và thông tin trực tuyến.
(iii) Dịch vụ phần mềm:Các dịch vụ phần mềm được cung cấp qua internet thông qua các bản tải xuống trên bản phân phối dựa trên đám mây; Tải về trình điều khiển thiết bị ngoại vi như máy in, máy scan; Tải xuống phần mềm phòng chống virus, bộ lọc tường lửa cho máy tính; Tải xuống các gói phần mềm kế toán. (iv) Cung cấp chương trình đào tạo từ xa: Chương trình học từ xa qua mạng; Giáo trình bài tập của sinh viên học trực tuyến. (v) Cung cấp văn bản, hình ảnh và cơ sở dữ liệu: Tải về các thiết kế; Sách điện tử; Quảng cáo trực tuyến; Đăng ký vào các blog, tạp chí hoặc báo trực tuyến; Phí thành viên cho các câu lạc bộ trực tuyến, tạp chí hoặc các trang Web hẹn hò; Sàn giao dịch trực tuyến cho hàng hóa và dịch vụ; Tải xuống các báo cáo, phân tích tài chính hoặc dữ liệu thị trường và các hướng dẫn; Thao tác tính toán dữ liệu qua mạng Internet hoặc các mạng điện tử khác. Ở Malaysia, Luật thuế dịch vụ sửa đổi năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2020) [27], DV KTS được Malaysia xác định là “là bất kỳ dịch vụ nào được cung cấp hoặc đăng ký qua internet hoặc mạng điện tử khác và không thể có được nếu không sử dụng CNTT và việc cung cấp dịch vụ về cơ bản là tự động”.
Phạm vi của DV KTS bao gồm: (i) Bản quyền phần mềm trực tuyến. (iii) Ứng dụng cho điện thoại và video game. 11 e (iv) Công cụ tìm kiếm và mạng xã hội. (vi) Quảng cáo trực tuyến.
(vi) Viễn thông trên nền tảng internet. (vii) Dịch vụ đào tạo trực tuyến. Như vậy, hiện nay giữa các nhà lập pháp của các nước trong phạm vi xây dựng chính sách thuế vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất về phạm vi của DV KTS. Tuy nhiên, có thể thấy rằng khái niệm và phạm vi các DV KTS cho dù được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau nhưng chúng đều có đặc điểm là tính vô hình, mọi hoạt động mua bán được thực hiện trên môi trường mạng.
Từ các khái niệm như trên, theo tác giả, về nghĩa rộng, DV KTS được hiểu là hoạt động cung cấp các sản phẩm phi vật lý từ các nhà cung cấp đến NTD bằng phương thức điện tử trong môi trường mạng. Các bước tiến hành giao dịch: đăng ký, thanh toán, giao hàng, dự trữ các sản phẩm phi vật lý đều được thực hiện hoàn toàn tự động và chỉ có sự can thiệp tối thiểu của con người. Theo nghĩa hẹp, DV KTS là hoạt động cung cấp những sản phẩm nội dung số trên môi trường mạng, được thực hiện hoàn toàn tự động – chỉ có sự tham gia tối thiểu của con người. Từ những cách hiểu như trên, trong phạm vi luận văn này, DV KTS được hiểu là dịch vụ cung cấp tự động trên môi trường mạng và không thể thiếu nếu không sử dụng CNTT, chỉ có sự can thiệp tối thiểu hoặc không có sự tham gia của con người vào quá trình cung cấp dịch vụ.
12 e Bên cạnh những đặc điểm chung với dịch vụ khác như: tính vô hình (sự khác biệt so với hàng hóa); và tính không thể chuyển quyền sở hữu, DV KTS có những đặc điểm riêng biệt là cơ sở để phân định nó với các dịch vụ khác trong thương mại điện tử: - Tính tách rời giữa quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ. Các DV KTS là các dịch vụ được tạo ra dựa trên việc ứng dụng CNTT nhằm phục vụ cho các nhu cầu nghe, nhìn, trao đổi thông tin ở hình thức kỹ thuật số. Việc cung cấp các sản phẩm nội dung số. Do đó, quá trình cung cấp và sử dụng các dịch vụ này hoàn toàn là độc lập.
- Tính đồng đều về chất lượng. Khác biệt với các dịch vụ khác, các DV KTS thường được cung cấp cùng mức tiêu chuẩn cho người tiêu dùng. Chẳng hạn, tất cả người tiêu dùng cùng xem trực tuyến 1 chương trình truyền hình hay cùng nghe 1 bản nhạc thì chất lượng bản nhạc hay bộ phim đó đều như nhau. - Tính dự trữ được.
Đặc điểm này xuất phát từ đặc tính tách rời giữa cung cấp và sử dụng dịch vụ. Sau khi, người tiêu dùng mua các DV KTS đi kèm với các sản phẩm nội dung số như file nhạc, file phim số, hay tài liệu thì các sản phẩm nội dung này có thể được lưu trữ trong những bị điện tử như máy tính, điện thoại hay ổ USB. Xuất phát từ những đặc điểm đặc thù của DVKTS nên hoạt động cung cấp DVKTS, đặc biệt là hoạt động cung cấp DVKTS của tổ chức nước ngoài vào một quốc gia khác cũng có những điểm đặc thù đáng quan tâm. Hoạt động cung cấp dịch vụ kỹ thuật số của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam DV KTS có thể được cung cấp bởi các doanh nghiệp trong nước hoặc các tổ chức nước ngoài hay con gọi là DV KTS xuyên biên giới.
Trong đó, 13 e hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam được hiểu là “hoạt động cung ứng dịch vụ của tổ chức nước ngoài được thành lập và hiện diện tại quốc gia/vùng lãnh thổ khác cho khách hàng cư trú tại Việt Nam”. Khách hàng tại Việt Nam có thể là các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh, cá nhân tiêu dùng cư trú tại Việt Nam. Trong luận văn này, tác giả tìm hiểu về hoạt động cung cấp DVKTS của tổ chức nước ngoài cho cá nhân kinh doanh và cá nhân tiêu dùng tại Việt Nam. Hoạt động cung cấp DV KTS của tổ chức nước ngoài vào Việt Nam có các đặc trưng sau: - 100% thanh toán trong các giao dịch mua DV KTS là thanh toán không dùng tiền mặt.
Trong giao dịch mua DV KTS xuyên biên giới, các bên tham gia vào giao dịch không phải gặp gỡ nhau trực tiếp để đàm phán ký kết, không phát sinh quá trình vận chuyển qua công ty logistics hay quá trình cung cấp dịch vụ từ bên thứ ba nên không thể áp dụng hình thức thanh toán tiền COD (Cash on Delivery: thu tiền khi giao hành) để ủy quyền cho bên thứ 3 thu hộ tiền khi giao hàng hay hoàn thành việc cung cấp dịch vụ. - Tính chắc chắn thu được tiền ngay sau khi hoàn thành việc cung cấp DV KTS. Trong kinh doanh thương mại điện tử, hoạt động cung cấp hàng hóa hay dịch vụ khác thường gặp không ít những khó khăn trong việc thu tiền khi hàng hóa đã chuyển quyền sở hữu hay quyền sử dụng hàng hóa cho người mua; hay việc cung cấp dịch vụ khác đã hoàn thành cho người mua. Nhưng đối với hoạt động cung cấp DV KTS, nguyên tắc “tiền trao – cháo múc” được áp dụng nên chỉ khi người bán nhận được thông báo chắc chắn đã thu được tiền từ người mua thì khi đó người bán mới tiền hành cung cấp DV KTS cho người mua.
- Tính không hoàn trả và không bồi hoàn. Phần lớn các DV KTS sau khi mua từ người bán thì người mua không thể hoàn trả lại dịch vụ và nhận lại 14 e tiền khi bạn cho rằng dịch vụ kỹ thuật đó số không đúng như quảng cáo giới thiệu hoặc không còn muốn sử dụng DV KTS đó hoặc trẻ con ấn linh tinh mua nhầm game. Chỉ có 1 số ít nhà cung cấp dịch vụ số cho phép hoàn trả nhưng chỉ trong thời gian ngắn tính từ thời hạn thanh toán nhưng thủ tục và thời hạn giải quyết rất phức tạp (chẳng hạn như Google store chỉ cho phép hoàn trả sau 2g tính từ thời hạn thanh toán).