Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về sở hữu nhà ở của người việt nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại việt nam luận văn ths luật 60 38 50

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls pháp luật về sở hữu nhà ở của người việt nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Tác giả

Ngô Thanh Hương

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2013

127
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU NHÀ Ở CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1.1. Một số khái niệm về nhà ở, sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

1.1.1. Khái niệm về nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

1.1.2. Khái niệm về quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

1.2. Tổng quan về người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

1.2.1. Tổng quan về người Việt Nam định cư ở nước ngoài

1.2.2. Tổng quan về người nước ngoài tại Việt Nam

1.3. Phân loại đối tượng sở hữu nhà ở có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

1.3.1. Đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

1.3.2. Đối tượng người nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

1.4. Điều kiện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

1.4.1. Điều kiện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

1.4.2. Điều kiện được sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam

1.5. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

1.5.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

1.5.2. Kinh nghiệm của Singapore

1.5.3. Kinh nghiệm của Malaysia

1.5.4. Kinh nghiệm của Indonexia

1.5.5. Kinh nghiệm của Philipin

1.5.6. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

1.6. Pháp luật về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

1.6.1. Quy phạm pháp luật điều chỉnh về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

1.6.2. Đối chiếu các quy định của pháp luật nhà ở về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam với pháp luật về đầu tư, kinh doanh nhà ở

1.6.3. So sánh quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài với người Việt Nam trong nước

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU NHÀ Ở CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

2.1. Quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

2.1.1. Quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

2.2. Những đặc thù cơ bản trong hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

2.2.1. Một số nội dung pháp lý cơ bản về hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở có yếu tố nước ngoài

2.2.2. Chủ thể hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài tại Việt Nam

2.2.3. Đối tượng của hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

2.2.4. Hình thức của hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

2.2.5. Nội dung của hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

2.2.6. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng mua bán nhà

2.3. Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

2.3.1. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

2.3.2. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người nước ngoài tại Việt Nam

2.4. Quy định xử lý vi phạm về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

2.4.1. Thẩm quyền xử lý các vi phạm về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

2.4.2. Xử lý các vi phạm về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

2.5. Thực trạng về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

2.5.1. Thực trạng sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

2.5.2. Thực trạng sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam

2.6. Áp dụng pháp luật về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

2.7. Áp dụng pháp luật về sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU NHÀ Ở CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

3.1. Hoàn thiện pháp luật về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam

3.4. Một số giải pháp khác

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Pháp luật về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi quan trọng. Những quy định này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân mà còn tác động đến sự phát triển của thị trường bất động sản. Theo Luật Nhà ở năm 2005, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép sở hữu nhà ở tại Việt Nam, điều này đã mở ra cơ hội cho nhiều người trở về quê hương. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực hiện các quy định này.

1.1. Khái niệm về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiểu là quyền sở hữu mà người Việt Nam có thể thực hiện khi trở về Việt Nam. Điều này bao gồm quyền mua, bán, cho thuê và sử dụng nhà ở theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để thực hiện quyền này, người dân cần nắm rõ các quy định pháp luật hiện hành.

1.2. Quyền lợi và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, nhưng cũng phải tuân thủ các nghĩa vụ như nộp thuế và thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết. Việc hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ này sẽ giúp họ tránh được những rắc rối pháp lý trong quá trình sở hữu nhà ở.

II. Vấn đề và thách thức trong việc sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam

Việc sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn do các quy định pháp luật còn hạn chế. Mặc dù Luật Nhà ở đã cho phép người nước ngoài mua nhà, nhưng vẫn có nhiều điều kiện và thủ tục phức tạp. Điều này dẫn đến việc nhiều người nước ngoài không thể thực hiện quyền sở hữu nhà ở một cách dễ dàng.

2.1. Điều kiện sở hữu nhà ở của người nước ngoài

Người nước ngoài muốn sở hữu nhà ở tại Việt Nam cần đáp ứng một số điều kiện như có visa hợp lệ, không sở hữu quá 30% số căn hộ trong một tòa nhà và phải thực hiện các thủ tục pháp lý theo quy định. Những điều kiện này đôi khi gây khó khăn cho người nước ngoài trong việc tiếp cận thị trường bất động sản.

2.2. Thực trạng và khó khăn trong việc thực hiện quyền sở hữu

Thực tế cho thấy, số lượng người nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam vẫn còn thấp. Nhiều người gặp khó khăn trong việc tìm hiểu và thực hiện các thủ tục pháp lý. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ mà còn tác động đến sự phát triển của thị trường bất động sản tại Việt Nam.

III. Phương pháp và giải pháp cải thiện pháp luật về sở hữu nhà ở

Để cải thiện tình hình sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam, cần có những giải pháp cụ thể. Việc đơn giản hóa thủ tục pháp lý và nâng cao nhận thức của người dân về quyền sở hữu nhà ở là rất cần thiết. Các cơ quan chức năng cũng cần có những chính sách hỗ trợ để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân.

3.1. Đề xuất cải cách thủ tục pháp lý

Cần đơn giản hóa các thủ tục pháp lý liên quan đến việc sở hữu nhà ở, từ việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đến các quy trình mua bán. Điều này sẽ giúp người dân dễ dàng hơn trong việc thực hiện quyền sở hữu của mình.

3.2. Tăng cường tuyên truyền và hỗ trợ pháp lý

Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác tuyên truyền về quyền sở hữu nhà ở cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài. Đồng thời, cần có các chương trình hỗ trợ pháp lý để giúp họ hiểu rõ hơn về quy định và quyền lợi của mình.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về sở hữu nhà ở

Nghiên cứu về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập, dẫn đến việc số lượng người sở hữu nhà ở vẫn còn thấp. Cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng này.

4.1. Thực trạng sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Theo thống kê, số lượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Nhiều người vẫn phải thuê nhà hoặc nhờ người khác đứng tên, gây khó khăn trong sinh hoạt và đầu tư.

4.2. Kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

Nghiên cứu cho thấy cần có những chính sách rõ ràng và minh bạch hơn để tạo điều kiện cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của họ mà còn thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản.

V. Kết luận và tương lai của pháp luật về sở hữu nhà ở

Pháp luật về sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Cần có những cải cách mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân. Tương lai của pháp luật này sẽ phụ thuộc vào sự nỗ lực của các cơ quan chức năng trong việc tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi.

5.1. Tương lai của chính sách sở hữu nhà ở

Chính sách sở hữu nhà ở cần được điều chỉnh để phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế. Việc này sẽ giúp thu hút đầu tư và tạo điều kiện cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài có thể sở hữu nhà ở tại Việt Nam một cách dễ dàng hơn.

5.2. Khuyến nghị cho các cơ quan chức năng

Các cơ quan chức năng cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật về sở hữu nhà ở. Đồng thời, cần có các chương trình hỗ trợ và tư vấn pháp lý để giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc sở hữu nhà ở.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về sở hữu nhà ở của người việt nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại việt nam luận văn ths luật 60 38 50

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU NHÀ Ở CỦA NGƢỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƢ Ở NƢỚC NGOÀI VÀ NGƢỜI NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ NHÀ Ở, SỞ HỮU NHÀ Ở CỦA NGƢỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƢ Ở NƢỚC NGOÀI VÀ NGƢỜI NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm về nhà ở của ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài và ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam Nhà ở không chỉ là tài sản lớn của mỗi cá nhân, hộ gia đình, nhà ở cũng được coi là điều kiện cần thiết đứng thứ ba sau ăn mặc để giúp con người có thể yên tâm tham gia lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Luật Nhà ở năm 2005 và Nghị định số số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2005 đưa ra khái niệm nhà ở là "công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân" [29, Điều 1].

Như vậy, để được coi là nhà ở thì cần có những điều kiện, yếu tố [17]: Thứ nhất, nhà ở phải là công trình xây dựng do con người tạo lập nên bằng công sức lao động kết hợp với các loại vật liệu xây dựng, thiết bị gắn với nhà ở thông qua các biện pháp khoa học, kỹ thuật để xây dựng (phải là công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng). Thứ hai, công trình xây dựng này được xây dựng để phục vụ nhu cầu ở và các nhu cầu sinh hoạt thường xuyên khác của hộ gia đình, cá nhân như: để duy trì cuộc sống, là không gian văn hóa của một tập hợp người có quan hệ gia đình (quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng) cùng ở trong một nhà, là nơi thờ cúng tổ tiên, nơi giao lưu, gặp gỡ các thành viên của nhiều thế hệ, của dòng họ, phục vụ yêu cầu duy trì nòi giống…. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên thực tế, vẫn có sự nhầm lẫn giữa nhà ở với chỗ ở, nơi cư trú như nhà trên thuyền, nhà nổi…Tuy nhiên, đó không được coi là nhà ở vì không đáp ứng được tiêu chí là nhà ở theo quy định của pháp luật. Luật Nhà ở đưa ra khái niệm về nhà ở để phân biệt giữa nhà ở với các loại nhà khác không phải nhà ở như: nhà làm việc, nhà hàng, khách sạn và các công trình xây dựng khác.

Để phân biệt nhà ở với các công trình xây dựng khác thì pháp luật về nhà ở đã đưa ra một số đặc điểm của nhà ở: Một là, nhà ở phải do con người xây dựng theo quy chuẩn, tiêu chuẩn thiết kế riêng và được xây dựng bằng các loại vật liệu mà Nhà nước quy định; Hai là, nhà ở phải luôn gắn liền với đất, có đủ điều kiện để phân cấp, phân loại theo quy định và có tuổi thọ nhất định; Ba là, nhà ở phải được thiết kế có đầy đủ công năng để phục vụ nhu cầu ở và sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân như: có phòng ở, sinh hoạt chung, bếp, công trình phụ; trong đó các công trình phụ có thể được xây dựng khép kín trong cùng một căn hộ hoặc xây dựng tách biệt. Theo pháp luật về nhà ở thì nhà ở được phân loại thành: nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà biệt thự tại đô thị, nhà chung cư…Tuy nhiên, không phải tất cả các loại nhà ở như đề cập ở trên đều thuộc hình thức nhà ở thuộc quyền sở hữu của người nước ngoài tại Việt Nam. Không giống như công dân Việt Nam ở trong nước, người nước ngoài chỉ có quyền sở hữu nhà ở là căn hộ chung cư trong dự án phát triển thương mại và không thuộc khu vực cấm hoặc hạn chế người nước ngoài cư trú đi lại. Như vậy, nhà ở thuộc sở hữu của người nước ngoài tại Việt Nam chỉ có thể là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân và có phần diện tích thuộc sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân, của chủ đầu tư và phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư.

Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm các trường hợp người nước ngoài mua nhà ở riêng lẻ hoặc nhà biệt thự gắn liền vì 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên quan đến quy định của Luật Đất đai năm 2003 và chính sách quản lý đất đai của nhà nước ta. Trước đây, đối tượng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng bị hạn chế rất nhiều về việc sở hữu nhà ở tại Việt Nam, tuy nhiên kể từ khi Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009, Luật Nhà ở năm 2005, Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 về hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở, Luật số 34/2009/QH12 ngày 18/6/2009 sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai có hiệu lực thì quyền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài đối với vấn đề sở hữu nhà ở được mở rộng hơn rất nhiều. Theo quy định hiện hành thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở không hạn chế về số lượng và loại nhà ở giống như công dân Việt Nam ở trong nước (trừ một số trường hợp). Điều đó có nghĩa là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu tất cả các loại nhà ở như nhà chung cư, nhà riêng lẻ, nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất… Như vậy, pháp luật về nhà ở của Việt Nam quy định rất chặt chẽ về loại nhà ở mà người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam được phép sở hữu.

Chính bởi chế định sở hữu đất đai, lịch sử đất đai và các chính sách, quy định đặc thù của Việt Nam liên quan đến đất đai trong việc bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước ta không mở rộng quyền sở hữu nhà ở của các đối tượng có yếu tố nước ngoài như với công dân Việt Nam ở trong nước. Khái niệm về quyền sở hữu nhà ở của ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài và ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất của mỗi công dân. Người chủ sở hữu đối với tài sản sẽ có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của mình. Để tìm hiểu quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam cần thiết phải đi nghiên cứu về chế định sở hữu tài sản nói chung và chế định sở hữu nhà ở nói riêng.

22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bộ luật Dân sự năm 2005 đã đưa ra một định nghĩa về quyền sở hữu bằng cách liệt kê những nội dung của quyền sở hữu và chủ thể các quyền này. Theo quy định đó thì "quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật" [28, Điều 164]. Như vậy quyền sở hữu có thể được hiểu là luật pháp về sở hữu trong một hệ thống pháp luật nhất định. Quyền sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự.

Hiểu theo nghĩa hẹp thì quyền sở hữu được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định. Có thể nói, quyền sở hữu chính là quyền năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu nhất định đối với một tài sản cụ thể, được xuất hiện trên nội dung của quy phạm pháp luật về sở hữu [35, tr. Theo từ điển Luật học thì: Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong chế độ sở hữu nhất định, là tổng hợp các quy phạm pháp luật về vấn đề sở hữu tồn tại trong xã hội tại thời điểm lịch sử nhất định (theo nghĩa khách quan). Các quy phạm pháp luật về vấn đề sở hữu bao gồm những nhóm quy phạm về: các hình thức sở hữu; căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu; nội dung quyền sở hữu; cách thức, biện pháp dịch chuyển quyền sở hữu ở các hình thức sở hữu khác nhau; bảo vệ quyền sở hữu.

Quyền sở hữu là quyền của chủ thể đối với tài sản thuộc sở hữu của mình (theo nghĩa chủ quan) bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Quyền sở hữu là chế định pháp luật dân sự, là quan hệ pháp luật dân sự, trong đó các yếu tố cấu thành gồm chủ thể, khách thể, nội dung [39, tr. 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luật Nhà ở năm 2005 cũng quy định về quyền sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân: Người tạo lập hợp pháp nhà ở có quyền sở hữu đối với nhà ở đó. Nhà ở thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân không bị quốc hữu hóa (trừ trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước quyết định trưng mua hoặc trưng dụng nhà ở thì Nhà nước bồi thường cho chủ sở hữu nhà ở theo giá thị trường tại thời điểm thanh toán và tạo điều kiện để họ tạo lập nhà ở khác) [29, Điều 9].

Như vậy, quyền sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân được nhà nước bảo hộ một cách toàn vẹn, không chủ thể nào có quyền xâm phạm đến quyền sở hữu nhà ở. Điều này có nghĩa là pháp luật công khai cho người thứ hai biết rằng một tài sản nào đó đã có chủ và ai là chủ sở hữu đối với tài sản. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các nước trên thế giới đều phân loại quyền sở hữu nhà ở là loại quyền sở hữu đối với bất động sản. Xét về mặt bản chất quyền sở hữu nhà ở (quyền sở hữu bất động sản) hầu như không có điểm gì khác với quyền sở hữu các loại tài sản khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ